Văn Tế Tướng Tàu La Viện

Hoang Huu Phuoc, MIB

 

Hôm nay nhân kỷ niệm 140 năm ngày Nguyễn Khuyến viết bài Văn Tế Ngạc Nhi tức tế quan nhớn của Pháp tên Marie Joseph Francois Garnier còn gọi tắt là Francis Garnier bị tử trận ở trận Cầu Giấy, Hà Nội, trước tiên tôi xin ghi lại nguyên văn bài văn tế của Tam Nguyên Yên Đỗ, và sau đó noi gương tiền nhân để viết bài văn tế tên thiếu tướng Tàu La Viện, kẻ đang sủa ăng ẳng về Biển Đông:

Văn Tế Ngạc Nhi

Tác giả: Quế Sơn Nguyễn Khuyến

 

Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

 

Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

Văn Tế La Viện

Tác giả: Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

 

Than ôi!

Thân mang hàm quan tướng

Tưởng an nhàn office thật sướng thân

Ngày qua ngày gom giấy cho mụ vợ bán ve chai

Có ngờ đâu một phút sa cơ vội bỏ kiếp đất bờ

Thân chìm nổi dật dờ thây cá rỉa.

Nhớ linh xưa:

Học sủa nhặng đua đòi thằng Mã Viện

Ẳng ẳng rằng tao cũng Viện vậy, thua ai?

Nước Nam kia tao sẽ quánh tựa chẻ tre

Lôi hết gái cháu chắt chút của Hai Bà về hưởng thú!

Mồm gấu gấu như La Thông thời tảo Bắc

Tay múa cào nhái La Quán ấy thằng Trung

Sử của Tàu chưa có đoạn trị Nam

La ta quyết: Viện này nay chấp bút!

Nhưng hỡi ôi!

Ngu dốt đặc nào đọc ra chữ “Nhất”

Đếch có mà biết sách sử có ghi chi

Chỉ xem tuồng ba xạo đánh đông tây

Với Nhân Quý, Cáp Tô Văn, toàn bá láp!

Ối cha ui! Ối mẹ ui! Giờ lỡ đụng cháu con Bà Nhị Trắc

Rời lưng voi, cưỡi trùng trùng lớp lớp súp-ma-rin

Nhấn Liêu Ninh đít cọ đáy Biển Đông

Lôi theo xác Viện La về trùng phùng Viện Mã

Khốn nạn thân Ông

Khốn khổ thân Ông

Khốn kiếp thân Ông

Khốn đốn thân Ông

Khốn khó thân Ông

Lăng Tần ta nay:

Tâm khuôn phò xã tắc nước Nam

Trí diệt tiêu bây giặc Tàu ché đỏ

Nhưng tuân ý muôn dân đem bày chút cỗ

Gồm Nờ Một Hát Năm: gà toi một chú, vịt lảo đảo một nàng

Sữa mê-la-mai: Sanlu bột mịn đại bổ béo hai thùng

Dưa hấu nổ: to đùng đùng ba trái

Móng trâu bò bốn năm chiếc xí quách gặm chơi

Rượu nước Nhiêu Lộc pha cồn chín mươi chữ sáu bình

La Viện ông sống có khôn thác có thiêng

(Mà dù có đếch khôn cộng với đếch thiêng, cũng)

Hãy chịu khó lội về đây phàn xực.

Ôi La Viện ơi là La Viện!

Ta vì phải học theo Nước Nam Truyện Cổ

Buộc mắng Ông cho tiêu tan tình tội của Ông

Nén hương trầm xin đốt cắm hũ chao

Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!

Thượng hưởng!

 

Ghi chú:

- office: văn phòng, cơ quan

- quánh: tiếng bình dân Nam Bộ, đồng nghĩa với “đánh”

- trị Nam: ý nói mấy tên họ La như La Thông (quyển La Thông Tảo Bắc) cũng là hạng vô danh tiểu tốt chẳng được dân Tàu xem trọng nên chẳng ai viết về y, còn La Quán Trung cũng là đứa họ La với La Viện thì cũng chỉ rặn ra được mấy quyển sách sử thể loại giải trí trường thiên chứ chẳng tham gia viết cái gì liên quan đến phía Nam vì toàn bộ lịch sử 5000 năm lập quốc của Tàu thì chỉ toàn đớn nhục ê chề khi đụng đến nước Nam, nên ngay cả có thời kỳ đô hộ nước Nam cả ngàn năm mà Tàu cũng chết khiếp không dám viết hay làm phim cổ trang về thời kỳ “ngàn năm” ấy. Tàu chỉ dám làm hai việc có dính tới nước Nam, đó là cách nay 30 năm sản xuất quả địa cầu vẽ nước Tàu dài tới…Mũi Cà Mau, và cách nay 3 ngày sản xuất tấm bản đồ ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Xem ra, Tàu vẫn sợ chết khiếp khi nghĩ đến nước Nam ta.

- Nhân Quý và Cáp Tô Văn: Tiết Nhân Quý (quyển Tiết Nhân Quý Chinh Đông), còn Cáp Tô Văn là thủ lĩnh Đại Hàn xứ sở kim chi, đối tượng của sự xâm lược do Nhân Quý tiến hành

- súp-ma-rin: tức submarine (tàu ngầm)

- Liêu Ninh: hàng không mẫu hạm của Tàu

- Nờ Một Hát Năm: tức H5N1, bịnh cúm gia cầm

- mê-la-mai: sữa melemin đặc sản Tàu, do hãng Sanlu sản xuất nhằm giết trẻ em … Trung Quốc, bảo đảm độc quyền, không đụng hàng trên toàn thế giới

- Nhiêu Lộc: nguồn nước tinh khiết độ đạm cực cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt dành riêng cho giặc Tàu xâm lược

- phàn xực: tức “xực phàn”, tức là … xực, tiếng lóng của Việt Nam gọi hành động “ăn uống”

- Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!: đây là lời kết rất hiền hòa do hậu sinh “Nhất Thạc Bàn Cờ” Lăng Tần không dám sử dụng từ ngữ ngang tầm “Đù cha mẹ nó!” của bề trên là Cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. (ghi chú thêm số1: Nhất Thạc là…Thạc sĩ mới có một lần, và là dân cư Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn; ghi chú thêm số 2: kiểu ngôn từ “Đù cha mẹ nó!” là kiểu đặc biệt dành cho bất kỳ bọn xâm lược nào đụng đến nước Nam, vì vậy cần được trau giồi, học hỏi, phát huy, tăng cường sử dụng trong văn học để chứng minh con cháu Việt ai cũng muốn giỏi như Trang Nguyên Ba Lần Nguyễn Trải)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com, http://antichina.blog.com, http://hhphuoc.blog.com

Email: hhphuoc@yahoo.com

Máy nhắn tin: 0988898399



Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn

Hoang Huu Phuoc, MIB

 

Các dị nhân Tàu đã từng chứng minh thật hùng hồn đầy sức thuyết phục với toàn nhân loại rằng tổ tiên và hậu duệ của Tàu rất giỏi về bói toán, tử vi, bốc dịch. Lịch sử của Tàu cũng từng chứng minh đã có dị nhân vì tài ba như thế nên dù đã biết số trời vẫn ra sức hô phong hoán vũ trấn bùa ếm chú chống ngăn, như gã họ Gia Cát tên gọi Khổng Minh (tức Phục Long Tiên Sinh, kẻ mà thiên hạ Tàu đại ngôn cho rằng cùng với gã họ Bàng tên Thống còn gọi là Phụng Sồ Tiên Sinh hợp thành thiên hạ đệ nhất mà chỉ cần có một trong hai ở dưới trướng theo phò là đã có thể gồm thâu xã tắc, nhất thống thiên hạ, lập nghiệp đế vương, để rồi khi trự tên Bị họ Lưu thu nạp cả hai lại bị tủi nhục mất cả giang sơn Thục quốc) lập đàn bắt ấn cũng không tránh được chuyện bị tên bại tướng hàng binh Ngụy Diên lấy mất cái đầu. Lấy cổ mà suy kim, có thể nhận định được rất rõ ràng rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Quốc, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là Tàu, cùng đám tiểu quốc lâu la theo đóm ăn tàn, đã đến “ngày tuyệt diệt”, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là “ngày tàn”, theo lời bàn của Lăng Tần Tiên Sinh nước Việt.

Cái sự suy vong của một nước nhớn từ cổ chí kim được nhận thấy qua duy chỉ một hành động duy nhất đã trở thành công thức mang tính chân lý bất dịch bất di là khi lãnh đạo nước ấy đột nhiên ngu xuẩn hấp tấp dấy động can qua (a) trên tư thế yếu của tâm thần từ hỗn hợp của các bệnh lý tâm thần complex neurophysiological phenomenon of neuroleptic malignant syndrome do di truyền từ tiên tổ và chứng thác loạn thần kinh khiếp sợ hypersensitivity mental disorder from heredity, genetics and brain chemistry cũng do di truyền từ tiên tổ; và (b) dựa dẫm vào sức khỏe bò điên có lưỡi bị tưa toét đứt làm chín đoạn. Từ những mặc cảm bịnh hoạn bịnh lý bịnh kinh niên của chứng Gelotophobia khiến luôn sợ bị cười chê nhạo báng do dân tộc mình ăn dơ ở dáy muôn đời bại trận trước Việt Nam, chứng Ordacleaphobia khiến vạn kiếp khiếp sợ thân phận không bao giờ hoàn hảo do không bao giờ làm bất kỳ phim cổ trang nào có nội dung đánh thắng Việt Nam, dẫn đến sự hình thành chứng bịnh Vietnamophobia luôn luôn khiếp sợ Việt Nam đến độ trầm trọng thành tâm bịnh Vietnamomania trở thành chứng điên dại Desanimania cộng với chứng Ecdemomonomania và Poriomania khiến bị thôi thúc phải bỏ lục địa lang thang ngoài khơi lạc tuốt xuống Biển Đông xây tạm cái xó xỉnh gọi là  “Thành phố Tam Sa”; cho đến sự khiếp sợ đầy bịnh hoạn của chứng Atychiphobia dưới tác động của lệch lạc tàn khốc của Homocidomania tức Phonomania đã khiến ra lịnh cho tay sai là bọn súc vật Khmer Đỏ tiến hành cuộc đại tàn sát dân Camphuchia nhằm thôn tính nước này làm bàn đạp vững chắc bảo đảm chiếm được Việt Nam. Chung quy, tất cả đã cộng hưởng với cái tâm thần lệch lạc của di chứng Claustrophobia lúc nào cũng sợ hãi sự tù túng bó rọ giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của đại quốc Nga và thực thể tiềm năng Mông Cổ ở phương Bắc, liên minh Hồi Giáo dũng mãnh và Ấn Độ ngoan cường ở phương Tây, Việt Nam thần uy dũng mãnh ở phương Nam, và ngọa hổ Nhật Bản với tàng long Hàn Quốc ở phương Đông, cuối cùng đã phá sụp thần trí Tàu, làm Tàu mông muội thè lưỡi xuống Hoàng Sa chấm mút Trường Sa.

Đầu Tàu đã mang quá nhiều chứng tâm thần, nhưng cũng nhờ những hành động chống trời kiểu Phục Long và Phụng Sồ đã khiến những bậc trí thức tài hoa đất Việt trời Nam không cần bấm độn cũng biết ngày tàn của Tàu đã đến. Do biết trước thiên cơ từ năm 2013 trở đi hàng vạn tai ương khủng khiếp giáng xuống Tàu cộng thêm với việc Tàu bị tan nát thành sáu nước, Tàu đã vì khiếp sợ mà cho rằng tiên hạ thủ vi cường, phải ra tay đánh xuống phía Nam trước để trừ hậu hoạn vừa tránh đại họa bị Việt Nam xóa sổ vừa có vùng đất đai mới để cắm dùi rời xa đất Tàu tan vỡ do bạo loạn và thảm họa thiên tai. Để thêm phần chắc thắng, một triệu chiến binh Tàu đã được cấp tiền bạc để trở thành công dân Campuchia, đất nước năm triệu dân, mua đất đai lập đồn điền áp sát toàn tuyến biên giới phía Tây của Việt Nam, tung tiền xây dựng tại thủ đô Phnom Penh con đường hoành tráng mang tên “Đại Lộ Mao Trạch Đông”, và hớn hở trước tình hình “đa đảng” của Campuchia với nhiều “đảng” hô hào thù hận Việt Nam, ra tay phá cột mốc biên giới, ngưng vô thời hạn việc cắm mốc còn lại, và vẽ lại bản đồ Việt Nam chỉ kéo dài xuống đến xứ Quảng, còn lại thì sáp nhập vào Vương Quốc Campuchia. Việc nhanh chóng “ra tay” trước của Tàu càng củng cố sự thật rằng Tàu buộc phải bị diệt vong. Tàu đã để lộ thiên cơ qua việc chống lại cơ trời, thay vì gắng sức tu nhân tích đức, xử sự đàng hoàng với Việt Nam hầu mong cải tạo được tình hình đại họa sắp giáng xuống toàn dân tộc Tàu mà bất kỳ người Việt nhân từ nhân hậu nhân văn nhân ái nhân đạo nào cũng không muốn chứng kiến ngày đất Tàu vỡ vụn chôn vùi hàng tỷ con người còn Biển Đông lại phải bị đổi tên thành Huyết Hải do nhuộm đỏ máu quân Tàu mà thế giới thì đã có biển Hồng Hải sẵn rồi nên Việt Nam khó thể đặt trùng.

Bọn Phục Long Khổng Minh Gia Cát Lượng và Phụng Sồ Bàng Thống cùng với nào là Quan Công tưởng đâu là thánh thần ghê gớm lắm, Trương Phi ngỡ đâu là uy dũng lắm, Thường Sơn Triệu Tử Long tưởng đâu là báu lắm, thế mà đem ngựa Xích Thố với muôn vạn hùng binh không thể giúp vua làm nên nghiệp Đế đã vậy còn rước thất bại đớn nhục ê chề. Bọn Tàu hậu duệ ngày nay đem hàng không mẫu hạm cùng tàu bè lãng vãng ở Biển Đông và một triệu quân nhập quốc tịch Campuchia đóng vai nhà nông đi trồng cao su sát biên giới Việt Nam thì cái sự thất bại càng hiển nhiên, cảng rõ nét, càng nhanh chóng, càng dưới chuẩn của nhục đớn chề ê hàng vạn dặm.

Ngày tàn của Tàu và bọn theo đóm ăn tàn đã phải đến. Thiên cơ đã lậu. Biết làm thế nào được.

Điều phước thiện duy nhất ViệtNamcó thể làm là tổ chức một Đại Lễ Cầu Siêu cho giặc mà thôi.

Các bài viết cùng chủ đề của Hoàng Hữu Phước:

Giặc Tàu Mọi Rợ. 20-9-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19703/giac-tau-moi-ro

900 Năm Hùng Khí Thần Uy. 30-05-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn. 28-03-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19544/vinh-buc-du-do-rach-va-moi-hon

Thử Vẽ Lại Bản Đồ Việt Nam. 02-8-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19647/hoang-huu-phuoc-thu-ve-lai-ban-do-viet-nam

Siêu Nhân & Tồi Nhân. 24-7-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19641/sieu-nhan-toi

Tết 2012: 33 Năm, Một Lời Thề. 02-02-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19496/tet-2012-33-nam-mot-loi-the

Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino. 18-10-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19355/trung-quoc-tra-loi-hai-cau-hoi-nhay-cam-cua-doc-gia-emotino

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán Việt. 02-9-2011 http://www.emotino.com/bai-viet/19263/trung-quoc-va-chung-ta-su-can-thiet-phai-viet-lai-ngon-tu-hanviet

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê.  08-9-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19274/trung-quoc-va-chung-ta-nhung-chuan-bi-nhieu-khe

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. 04-8-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh

Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. 03-7-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo

Chữ U Với Gạch Chéo. 01-7-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. 26-6-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. 09-6-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta

Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. 22-7-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Máy nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Web: www.myabiz.biz

Blogs: http://antichina.blog.com, http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com, http://hhphuoc.blog.com



Ngày Tận Thế 21-12-2012 – Biện Luận Của Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

Hoang Huu Phuoc, MIB

Mục lục

A) Điếc Tai và Chộn Rộn

B) Tận Thế Ư? Có Chớ!

C) Tận Thế Vào Ngày 21-12-2012 Ư? Còn Khuya!

D) Ngoan Đạo, Chống Cộng, Nghiên Cứu:VớVaVớ Vẩn!

E) Cung Cách Bậc Đại Trí

A) Điếc Tai và Chộn Rộn

Một trong những tựa đề tôi đã ghi vào sổ tay để khi nào có tí thời gian rỗi rảnh là viết ngay, đó là “Địa Cầu Vỡ Vụn” có nội dung về những tai họa giáng xuống thế giới trong thời gian sắp đến, chủ yếu là đối với các nước Mỹ và Trung Quốc. Thế nhưng đến nay đã hơn hai năm mà tôi vẫn chưa thể bắt đầu. Nay nhân thấy thiên hạ gồm những tu sĩ, người nhàn cư vi bất thiện, và các “nhà nghiên cứu” dở hơi chẳng có học hàm học vị gì sất tuyên bố vung vít ẩn danh trên mạng hoặc không ẩn danh trên báo chí về cái gọi là Ngày Tận Thế xảy ra lúc 11 giờ 11 phút ngày Thứ Sáu 21-12-2012, chộn rà chộn rộn nghe rất điếc tai, tôi bèn lấy một ít ý tưởng của cái bài “Địa Cầu Vỡ Vụn” chưa viết ấy để nêu lên những ý kiến rất nghiêm túc (tức decently righteously serious), rất hàn lâm (tức intellectually knowledgeable) , và rất riêng (tức highly original) của tôi đối với tin hù dọa về ngày 21-12-2012 ấy.

B) Tận Thế Ư? Có Chớ!

Theo triết lý Nhà Phật thì vạn vật hữu sinh hữu diệt. Từ ngữ “trăm tuổi” được dùng ám chỉ một đời người của mỗi người. Kẻ ác tâm hay người lương thiện đều chỉ có ngần ấy ngày giờ, và tất cả sự vái van, cầu nguyện, cúng kiến, hối lộ thần linh hay áp dụng tà thuật ếm ép (như Khổng Minh Gia Cát Lượng ếm bùa cho lắm cũng phải ra đi nhục nhã dưới bàn tay tên tướng tép riu hạ đẳng Ngụy Diên) cũng chỉ như sự vùng vẫy khi bị ném xuống trôn xoáy của đại dương. Tương tự, trái đất cũng phải có ngày “trăm tuổi” của nó. Đó là sự tất yếu, bình thường. Vấn đề là mỗi con người có làm cho sự trăm tuổi ấy đến nhanh hơn cho bản thân (qua nhậu nhẹt, chơi bời trác táng, phạm pháp, phản quốc) hay cho trái đất (sống và kinh doanh kiểu hủy phá thiên nhiên, tàn hại môi trường) mà thôi. Tai họa do các địa cực tan chảy do sự ấm lên của hành tinh này khiến nước biển dâng cao trực tiếp đe dọa sự sống còn của hàng trăm triệu người vùng ven biển và gián tiếp đặt dấu chấm hết cho sự hiện diện của con người mai sau, hay do sự cố dàn khai thác dầu hỏa Deepwater Horizon của Tập Đoàn BP ngoài khơi vịnh Mexico, hoặc từ vụ cháy các nhà máy điện nguyên tử như Chernobyl ngày 26-4-1986 và Fukushima Daiichi ngày 11-3-2011, v.v., đều do chính bàn tay con người gây ra nhằm mau chóng chứng kiến ngày “trăm tuổi” của trái đất này. Như vậy, cầu thì được, ước thì thấy, có công mài sắt thì có ngày nên kim, cái việc tận thế chắc chắn sẽ đến như kỳ vọng, như ước vọng, như khát vọng, như tham vọng, do đó sao lại phải khiếp sợ, hốt hoảng thế kia? Trừ phi cái cầu thì được, ước thì thấy, có công mài sắt thì có ngày nên kim ấy là dành cho cái khác, hoàn toàn khác, totally different, absolutely different, vốn cực kỳ khó khăn do con người không thể không mó máy tay chân, từ tàn phá rừng, bôi bẩn môi trường, v.v., một cách có ý thức, với đầy đủ nhận thức, và lúc hoàn toàn tỉnh thức. Và trừ phi hai thế lực sau hành sử quyền uy thích hợp và nghiêm khắc: (a) Mỹ và Trung Quốc phải chấm dứt việc phủ nhận trách nhiệm cắt giảm khí thải đang tàn hại địa cầu, và (b) các chính phủ có thiên hướng dân túy – trong đó tất nhiên có chính phủ Việt Nam – phải chấm dứt việc áp dụng hình-phạt-cứ-như-âu-yếm-và-khuyến-khích đối với các hành vi xâm hại đến môi trường như phá rừng, xả thải, tận diệt đa dạng sinh học, v.v., của cá nhân và tổ chức. Các nước khác quan tâm đến nghiêm minh vì họ đã đạt mức nghiêm khắc. Việt Nam cần nghiêm khắc, do nghiêm minh sẽ biến thành xa xỉ và hoàn toàn vô nghĩa nếu các điều luật quá nương nhẹ đến độ chỉ khuyến khích phạm tội mà thôi.

 C) Tận Thế Vào Ngày 21-12-2012 Ư? Còn Khuya!

Hàng triệu triệu năm trước, trái đất có mặt đất rạn nứt, mỏng mảnh, với bên dưới nhão nhòe nhão nhoẹt do dung nham sục sôi luôn nổ bọt khí lốp ba lốp bốp, đầy khói lưu huỳnh do núi lửa phun phùn phụt khắp nơi. Ấy vậy mà bao loài khủng long ăn thịt và ăn cỏ vẫn sống. Ấy vậy mà trái đất thay vì nứt toát ra làm năm tiểu hành tinh (gồm Trái Đất 1 của Mỹ và … Anh là cặp tình nhân dính như sam, con nọ luôn bám đè lên lưng con kia ngay cả khi trước mắt mọi người tại Liên Hợp Quốc; Trái Đất 2 của Nga; Trái Đất 3 của Việt Nam; Trái Đất 4 của Tàu và các nước Trung Đông tức những nước có thể khớp mỏ Tàu; và Trái Đất 5 của…phần còn lại của thế giới) xài chung một Mặt Trời và một Mặt Trăng, do điều kiện đúng và đủ cho sự tách rời, thì lại tồn tại theo một hướng phản khoa học: gắn chặt kiên định thành một khối, ngày càng .. dễ thở hơn, tạo điều kiện cho con người xuất hiện, nhân bản, tràn ngập tinh cầu, ngày càng thông minh hơn, giàu có hơn, có nhiều thời gian nhàn hạ hơn để suy gẫm về cái gọi là…Ngày Tận Thế! Đó là cái trái khoáy của cái gọi là “con người”. Nếu gọi “tận thế” là từ chung để chỉ sự chấm dứt tồn tại của một thiên thể hay thiên hà thì Trái Đất sẽ tận thế, đơn giản vì vạn vật hữu sinh, hữu diệt. Không chỉ Trái Đất sẽ tận thế, mà cả Thái Dương Hệ này sẽ tận thế. Không chỉ Thái Dương Hệ này sẽ tận thế, mà vũ trụ này sẽ tận thế (có rất nhiều vũ trụ) do đang ngày càng tiến đến gần hơn Hố Đen. Từ nay đến lúc vũ trụ này bị hút vào Hố Đen của tỷ đời hư mất thì e máy tính Casio cầm tay của học sinh ViệtNam cũng không đủ ô digital để hiện đủ các con số 0 sau số 9 để chỉ tổng số năm còn lại. Vì vậy, 21-12-2012 chỉ là một ngày trước của ngày 22-12-2012, tức là ngày Thứ Bảy người ta nên thu xếp đặt mua trước gà quay, vịt quay, và bánh mì, dù có đạo Chúa hay không có đạo Chúa, để quây quần ăn uống vui vẻ, xem tivi, v.v. ngày 24-12-2012, chứ không bao giờ được cho phép là Ngày Tận Thế.

D) Ngoan Đạo, Chống Cộng, Nghiên Cứu: Vớ Va Vớ Vẩn!

Càng gần đến ngày 21-12-2012, người ta càng thấy sự vớ va vớ vẩn của giới đội lốt tu hành, giới Chống Cộng, và giới “nghiên cứu”.

1- Giới Tu Hành:

Có nhiều tên đội lốt tôn giáo kể cả các “tu sĩ” hải ngoại có “tên Thánh” hẳn hoi bắt đầu gởi email tứ tung nói về Ngày Tận Thế 21-12-2012 và khuyên mọi người hãy cầu nguyện Chúa Lòng Lành để được bình an. Đây là xảo kế nhằm tôn vinh đạo của chúng để trước đó và sau đó thu lợi từ tín đồ (trước 21-12-2012 gởi hết tiền bạc, chứng khoán, “sổ đỏ”, của cải – và có khi cả trinh tiết – vào trụ sở tu hành cho các tu sĩ gìn giữ cho qua “kiếp nạn”; và sau 21-12-2012 kêu gọi gia tăng các khoản đóng góp cho cơ sở tôn giáo với lý do: “Thấy chưa? Ta nào nói sai! Chỉ cần tin vào Chúa dưới sự dẫn dắt bảo vệ của ta tại chính nhà thờ này là mọi họa tai đều qua khỏi.” Ghi chú: từ ngữ “Chúa” có thể được thay thế bằng “Phật”, và “nhà thờ” bằng “chùa”, v.v., tùy theo tên ấy đội lốt tôn giáo nào, vì người theo Phật sẽ gọi hắn là “sư hổ mang”, v.v.). Nội dung này tôi đã dùng đốp chát lại bất kỳ “thông điệp” nào về ngày 21-12-2012 của bất kỳ tên đội lốt tu sĩ nào dù bằng tiếng Việt hay tiếng Anh mà chúng gởi đến địa chỉ email của tôi; và do chúng gởi đến hàng chục hay hàng trăm người nên khi tôi nhấn “reply all”, câu đối đáp của tôi cũng nương đó mà đến nhiều người hơn.

Ngoài ra, một con chiên của Chúa lại tin vào mấy tài liệu của người Maya Cổ vốn chỉ thờ lạy ngẫu tượng ư? Chúa Jesus có phán gì về ngày 21-12-2012 không? Sẽ thật là sai đến độ đáng tức cười và đáng thương hại nếu lãnh đạo tinh thần nào đó của Nhà Thờ hay của Tòa Thánh lên tiếng khuyên giáo dân nên tăng cường cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi, vì hóa ra tuy Kinh Thánh Cựu Ước và Kinh Thánh Tân Ước chẳng ghi gì về chi tiết 11g11 ngày 21-12-2012 mà chỉ cần tài liệu của dân Maya thờ lạy ngẫu tượng nói đến cũng đủ làm giáo dân rúng động đến thế ư? Điều duy nhất đúng mà nhà lãnh đạo tinh thần đạo Chúa nên nói chỉ có thể là: “Những gì Thiên Chúa không phán, các con hãy đừng chộn rộn làm loạn kỷ cương phép nước”, vì nếu không nói đại loại như thế các vị vừa chống lại Chúa (vì Thánh Kinh không có nêu ngày 21-12-2012 mà chỉ nêu Chúa Trời rất cương quyết, đã ra lịnh tàn sát sinh linh là thiên sứ cứ thế mà gây ra thảm sát, bất kể già trẻ lớn bé nữ nam, cách chi mà việc cầu nguyện có thể cản ngăn được “mệnh lệnh” của Ngài) vừa lộ rõ nguyên hình giới tà đạo muốn trục lợi từ tín đồ (như đã từng bao lần xảy ra ở Mỹ giống như vụ của giáo phái Davidian năm 1993 mà “đấng giáo chủ” đã “hê” lên việc Đức Chúa Giáng Lâm để dụ bao tín đồ trong đó có nhiều phụ nữ và bé gái vào trang trại của y để y tận hưởng tài sản cùng trinh tiết của họ).

Ngoài ra, một tín đồ của Phật lại tin vào mấy tài liệu của người Maya Cổ thờ lạy ngẫu tượng ư? Đức Phật chỉ phán với tâm thế một đại hiền triết rằng vạn vật hữu sinh hữu diệt, mà những câu trong bài thơ của Nữ Sĩ Tuệ Mai* đã lột tả đến độ thượng thừa. Đức Phật sẽ không bao giờ nói về thời gian 11g11 ngày 21-12-2012, nên sẽ thật là sai đến độ tức cười và đáng thương hại nếu nhà lãnh đạo tinh thần của chùa chiền nào đó lại lên tiếng khuyên thiện nam tín nữ nên tăng cường ăn chay niệm Phật cho tai qua nạn khỏi, vì hóa ra tuy Kinh Phật chẳng ghi gì về chi tiết 11g11 ngày 21-12-2012 mà chỉ cần tài liệu của dân Maya thờ lạy ngẫu tượng nói đến cũng đủ làm cộng đồng Phật Tử rúng động đến thế ư? Điều duy nhất đúng mà nhà lãnh đạo tinh thần đạo Phật nên nói chỉ có thể là: “Những gì Phật đã dạy, hãy cứ sống theo đấy, đừng chộn rộn vì thứ ngoại lai mà làm loạn kỷ cương phép nước”, vì nếu không nói đại loại như thế các vị vừa làm nhục Phật vừa lộ rõ nguyên hình giới tà đạo muốn trục lợi từ tín đồ (như đã từng xảy ra mà báo chí thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là “sư hổ mang” chuyên dụ nữ tín đồ giao phó cho sư tài sản cùng thân xác).

2- Giới Chống Cộng:

Từ năm ngoái tôi đã nhận vài mail tương tự của giới Chống Cộng nói về 21-12-2012, kêu gọi người Việt hải ngoại hãy dọn mình cho ngày tận thế bằng cách sống hòa thuận trong gia đình (xã hội Mỹ khiến gia đình Việt anh em con cháu tranh giành quyền lợi, đấu đá quyền thừa kế dữ dội sao?), trong cộng đồng (phe Chống Cộng hù dọa, đập phá, hành hung những Việt Kiều không chống Cộng ư?), xí xóa các gây gổ xích mích để gặp nhau thường hơn để cùng cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi (để tiếp tục đến từng nhà thu tiền “ủng hộ phục quốc” ư?). Cũng y như cách đối với các tu sĩ đội lốt trên, tôi đã nhấn “reply all” để nêu vấn đề với hàng chục hay hàng trăm người rằng: “Thế quý vị thường hay kết tội Cộng Sản Việt Nam, thường hay nói căm thù Cộng Sản Việt Nam, thường hay đòi cấm vận Việt Nam, luôn muốn Việt Nam điêu đứng, v.v. và v.v. Vậy, ngày tận thế gần đến rồi, và quý vị đang kêu gọi tha thứ, liệu quý vị có tha thứ Cộng Sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam, chấm dứt chống phá Việt Nam, và cầu nguyện cho Cộng Sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tai qua nạn khỏi không? Nếu không, vậy những người chuyên gây ra ác nghiệp gồm khẩu nghiệp (chửi bới nguyền rủa vu khống Việt Nam), thân nghiệp (gởi thư đòi cấm vận Việt Nam), ý nghiệp (cầu nguyện cho Việt Nam điêu linh sụp đổ), lại tin là có một Đức Phật riêng và Đức Chúa riêng cứu riêng mình trong ngày tận thế 21-12-2012 à?”

3- Giới Nghiên Cứu:

Cách nay vài hôm có “nhà nghiên cứu” nọ (hình như tên là Nguyễn Phúc Giác Hải thì phải) trả lời báo chí về ngày 21-12-2012, nói tán ra đến sự loạn lạc trên thế giới và nêu mấy câu quen thuộc đến độ nhàm chán của Sấm Trạng Trình (về Long Vĩ, Xà Đầu). Té ra ông này đem Sấm Trạng Trình áp vô loạn toàn cầu! Một phát kiến thật vĩ đại! Trạng Trình mà đạt tầm cỡ bói toán cho nhân loại ư? Nghe đâu Trạng chỉ bói cho dân Việt và nước Việt thôi. Khi trả lời như thế, nhà nghiên cứu cho thấy đã chưa hề được đọc bài viết của Lăng Tần trên Emotino về Sấm Trạng Trinh**, vì nếu đã đọc thì hẳn đã không thể khinh xuất như thế. Cái gọi là Sấm Trạng Trình như tôi đã nêu trong bài viết trên không thể là của Trạng Trình vì ngôn phong thấp kém không có giá trị văn học của một văn tài như Trạng. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu ấy cũng làm được hai việc là (a) gián tiếp cho rằng ngày 21-12-2012 sẽ không là ngày tận thế vì Long Vĩ là cuối năm Thìn 2012 còn Xà Đầu là đầu năm Tỵ 2013, nếu tận thế thì nói chi đến 2013, nên cuộc sống vẫn tiếp diễn nhờ có Sấm Trạng Trình, và (b) trực tiếp cạnh tranh với …phe Chống Cộng gồm những người mấy chục năm nay luôn đốt nhang khấn vái mỗi 12 năm một lần cho rằng cái Long Vĩ Xà Đầu của Trạng Trình là báo điềm sụp đổ của Cộng Sản Việt Nam chứ không phải sự sụp đổ của thế giới tư bổn, càng không thể là ngày tận thế vì ngày ấy mà đến thì phe chống Cộng tự động tiêu tùng luôn ấy chứ lị!

E) Cung Cách Bậc Đại Trí

Nếu bạn là bậc đại tài đại trí, thì dù bạn là tín đồ bất kỳ tôn giáo nào bạn ắt luôn hiểu ý tứ các phán dạy của bậc đại hiền triết Thích Ca Mâu Ni, người mà đạo pháp đã khiến nhà bác học vĩ đại Albert Einstein phải tâm phục khẩu phục, về tính chất của vạn vật hữu sinh hữu diệt, sắc sắc không không, cũng như cách để chu toàn các bổn phận tốt đẹp như hiếu thảo, thuận hòa, đại hùng, đại lực, đại từ bi, từ đó sẽ thấy ngày trăm tuổi của bạn là ngày đương nhiên của tương lai và ngày tận thế  cũng là ngày đương nhiên của tương lai. Nếu một người ở lứa tuổi 20 nghĩ hoài về ngày trăm tuổi, rồi vì lo sợ mà bỏ hết mọi sự trên đời, chỉ tập trung cầu nguyện cho y đừng có ngày trăm tuổi ấy, thì bạn sẽ đánh giá về y ra sao? Tương tự, nếu một người ở lứa tuổi lao động lại nghĩ hoài về ngày trăm tuổi của địa cầu, rồi vì lo sợ mà bỏ hết mọi sự trên đời, chỉ tập trung cầu nguyện cho trái đất đừng có ngày trăm tuổi ấy, thì bạn sẽ đánh giá về y ra sao? Chỉ cần bạn ghi ra các nhận xét ấy, bạn sẽ hiểu rằng mọi việc dù đó là cuộc đời bạn hay sự sinh tồn của địa cầu đều tùy vào sự tổng hợp của cái trí, cái tài, cái tâm, và cái đức của chính bạn, vì chỉ cần mỗi người khác nhau trên đời đều đạt được giống nhau cái tổng hợp ấy là cuộc sống từng người đã tốt đẹp hơn và ngày tận thế bị đẩy lùi xa hơn. Vì sao vậy? Đơn giản vì khi có trí, bạn nhận ra đâu là điều nên làm, phải làm, để lo trước cái lo của thiên hạ, để sống tích cực vì bản thân, vì gia đình, vì xã hội, vì đất nước, vì tha nhân. Đơn giản vì khi có tài, bạn có thể đưa cái trí vào hiện thực một cách thuyết phục, tác động tích cực đến tha nhân để gia tăng theo cấp số nhân những thành tố tốt đẹp cần thiết cho xã hội. Đơn giản vì khi có tâm bạn luôn được chèo lái bởi điều thiện và luôn định được cho mình nẻo đường hướng thượng phải theo. Và đơn giản vì khi có đức bạn chứng tỏ được hai điều rằng (a) bạn thu phục được ngày càng đông hơn những người tốt trong xã hội và rằng (b) bạn đã từng được sống với những đấng sinh thành cao quý, những người đã tạo nên được cho cộng đồng một người con trí-tài-tâm-đức như bạn.

Còn nếu bạn không có thời gian lắng nghe thuyết giảng về trí-tài-tâm-đức, bạn chỉ cần tự hỏi xem nếu 21-12-2012 là ngày tận thế, bạn có sẵn sàng ngay bây giờ đem toàn bộ sổ đỏ, tiền bạc, quý kim, xe cộ, laptop, smartphone, ipad, v.v., đến tặng hết cho người nào đó hoặc quẳng hết ra đường không? Nếu bạn cho ra một câu trả lời phủ định, thế thì làm gì có ngày tận thế mà bạn phải lo âu, lo lắng, lo sợ cơ chứ!

Và nếu bạn không có thời gian lắng nghe thuyết giảng về trí-tài-tâm-đức, bạn chỉ cần tự hỏi xem nếu 21-12-2012 là ngày tận thế và là ngày Thứ Sáu, bạn có sẵn sàng ngay bây giờ hiên ngang bước vào phòng giám đốc để tuyên bố từ bỏ chức vụ của bạn và xin nghỉ việc ngay lập tức, bỏ qua các quy định của pháp luật lao động mà không cần nhận tiền thôi việc cùng tiền bảo hiểm xã hội để về nhà đọc kinh cầu nguyện dọn mình chờ giây phút cuối đời không? Nếu bạn cho ra một câu trả lời phủ định, thế thì làm gì có ngày tận thế mà bạn phải lo âu, lo lắng, lo sợ cơ chứ!

Cuối cùng, khi phát hiện rằng vấn đề về ngày tận thế là vấn đề vớ va vớ vẩn, bạn sẽ thấy việc bạn cần làm là yêu thương bản thân, gia đình, cuộc sống, xã hội, đất nước nhiều hơn, từ đó ra sức cùng người thân quanh mình làm những điều tốt đẹp cho cuộc sống, cho môi trường, cho hòa bình, và cho đất nước, với sự hiểu biết rằng khi bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược tràn ngập non sông thì thảm họa sẽ tàn khốc hơn một Ngày Tận Thế.

Ghi chú:

* Tôi và Nữ Sĩ Tuệ Mai. 02-3-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19527/toi-va-nu-si-tue-mai

** Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. 04-8-2011.  http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh

Bài sẽ post sau 11g11 ngày 21-12-2012: Ngày Tàn Của Trung Quốc

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Máy nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Blog: http://hhphuoc.blog.com, http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com, http://antichina.blog.com



Thực Phẩm Trung Quốc: Tại Sao?

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bài viết này của Hoàng Hữu Phước, song không được viết với phong cách Hoàng Hữu Phước, nghĩa là lần này sẽ không có mào đầu dẫn nhập thứ tự lớp lang bài bản của chân phương từ trái qua phải, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, hay của phá cách vòng vo tam quốc quen thuộc, mà lại đi ngay vào kết luận ngay nơi đặt bút viết đoạn đầu tiên, đó là: Mọi Sự Xảy Ra Liên Quan Đến Thực Phẩm Trung Quốc Là Do Một Chữ “Đói” Mà Ra.

Nhớ khi xưa, chính phủ Cộng Sản Việt Nam lúc vừa đánh đuổi quân Mỹ và quân Cộng Hòa chạy tan tác tan nát tan vỡ tan tành không còn manh giáp, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, xong là đã phải đương đầu với một vấn nạn khủng khiếp mà chưa bất kỳ một chính phủ nào trên trái đất này từng kinh qua, đó là cùng lúc bình định cương thổ, tổ chức thống nhất giang sơn, quản lý tù binh và hàng binh, quán xuyến công tác hành chính nhân khẩu, thống kê cai quản kho tàng, và bảo vệ thành quả cách mạng, v.v. và v.v. Ngay sáng 01-5-1975, hàng ngàn người dân Sài Gòn ào ạt xông vào cướp tất cả các kho hàng từ Cảng Khánh Hội đến bên kia Cầu Tân Thuận, và hàng núi bao gạo Mỹ (tức gạo Thái Lan) được chất đống hai bên lề đường (nay là đường Nguyễn Tất Thành) mà người bán là những thanh niên mình trần trùng trục, quần dài xăn đến gối có mà quần đùi cũng có, mặt mày đa số giống dân anh chị ở khu Tôn Đản khét tiếng (mà Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn cũng phải chùn tay) nhưng lại rất … “nhân từ” khi bán tháo bán đổ mỗi bao gạo 50 ký với giá bèo mà ai có bao nhiêu cứ đưa bấy nhiêu, chẳng qua đó là thứ có từ hôi của và phải bán cho nhanh trước khi “mấy ông Việt Cộng” đến!  Dân Sài Gòn từ các quận đổ xô về đấy để mua thứ châu ngọc mà thời cuộc chưa rõ sẽ còn có dồi dào. Và với một đất nước bị tàn phá thảm hại vì chiến tranh, cộng với sự tuyên truyền của tâm lý chiến Mỹ-Cộng Hòa về sự tàn ác kinh sợ của Cộng Sản đã thay vì làm quân đội Cộng Hòa quyết tâm tử thủ lại khiến họ run cầm cập vất súng đầy đường khóc chạy bộ về Miền Tây gây khủng hoảng dây chuyền khiến bao dân cày bỏ đồng ruộng lũ lượt ra khơi vượt biển. Chủ điền cùng tư thương hoặc biến mất hoặc lo sợ ẩn mình. Chủ trương chính sách thì tất nhiên cần nhiều thời gian sàng lọc, thử nghiệm, chiêm nghiệm, phân tích, tổng hợp. Và hậu quả tất yếu là canh tác lúa gạo sản xuất hàng hóa đình đốn, biến việc lo toan cái ăn cho toàn dân trở thành chuyện quốc gia đại sự cho Ủy ban Quân Quản. Cái tài của những người chiến thắng lại được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quản trị và tổ chức khâu phân phối hiệu quả nhất thế giới trên phạm vi toàn quốc (mà ngày nay khi ấm no sang cả đủ đầy, người ta ngoảnh về quá khứ, đưa ngón tay út chỉ về nó mà trịch thượng kháo bảo nhau rằng: “ấy là cái gọi là thời bao cấp đấy”), vừa quyết định gieo trồng cây lương thực ngắn ngày là bo-bo để nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước. Đó là một kỳ tích xuất phát từ bản lĩnh đối phó, trí thông minh, và lòng yêu nước thương dân của những nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Còn nhớ khi xưa, nước Tàu sau khi thống nhất trở thành đất nước rộng lớn, đông đúc dân cư đến độ thành nạn nhân mãn, phải tiến hành bao cuộc chiến tranh xâm lược để (a) nếu may ra thắng trận thì có thêm lương thảo kho tàng để đem về nuôi cả tỷ cái bao tử bự, còn (b) nếu rủi thất trận thì cũng không sao vì chiến thuật “biển người” mỗi khi xung trận giáp lá cà cũng giúp ngốn bớt sổ lượng lớn dân cư khỏi mất công nuôi. Điều khiến các vua Tàu ham đánh đấm là vì nhờ cái “uy khủng khiếp” của Tàu mà ai có nhỡ mà đánh thắng Tàu thì cũng phải “biết điều” mà lúp xa lúp xúp chạy qua Tàu quỳ lạy xin lỗi, xưng “Thần”, và cung kỉnh dâng tiến cống với bao trân châu bảo ngọc, ngà voi sừng tê, trinh nữ quốc sắc thiên hương, kỳ nam, thảo dược, chiêm tinh gia, thầy thuốc, thợ thuyền và nhà nho. Chỉ có một lần duy nhất (ấy là tính đến năm 2012 thôi, chứ từ 2013 về sau thì ắt sẽ có thêm một hay nhiều lần khác) là có ông họ Lý tên Kiệt chữ lót là Thường (may mà không trùng tên với nhãi ranh Tàu tên Lý Liên Kiệt toàn múa võ xạo trong phim kiếm hiệp tào lao), đánh bại quân Tàu xong còn xua quân tràn ngập đất Tàu, tiến như chẻ tre, đến nỗi hàng trăm dặm không nghe tiếng người, chớ còn tiếng chó, suýt nữa đã thu hồi giang sơn về một mối tính từ Động Đình Hồ suốt về phương Nam. Song, đất đai Tàu quá rộng, dân Tàu lại quá đông, mà phàm hễ cứ đông dân thì dị nhân cũng lắm mà quái thú cũng nhiều, cứ như bọn Lương Sơn Bạc đa số là quái thú giết người như ngóe làm nhân bánh bao cũng đủ biết cái đói đã hoành hành nước Tàu từ lâu, lâu lắm, đến độ vua chúa cũng ăn thịt người hoặc thịt từ đùi non của quan hầu cận, mà muốn biết cứ xem Đông Châu Liệt Quốc với lại Xuân Thu Oanh Liệt thì rõ mười mươi. Đến khi bị xiêu vẹo do Bát Quốc Liên Quân chiếm Bắc Kinh rồi bị Nhựt Bổn chiếm đóng toàn bộ cương thổ biến dân Tàu xơ xác như Cái Bang, may gượng dậy được nhờ khôn khéo giương cao ngọn cờ vinh diệu của Cộng sản để núp vào đấy mà giải phóng đất nước, song thói quái thú vẫn còn nên hễ đói là Tàu lại làm càn. Lấy việc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam và việc sử dụng bọn Khờ-Me Đỏ tàn sát tận diệt dân tộc Campuchia với mưu đồ biến Campuchia thành lãnh thổ của Tàu nhằm hoàn tất đại cuộc dở dang mà tiên tổ Tàu chưa ai làm được là chiếm đóng Việt Nam nhằm cướp gạo Cửu Long về nuôi dân Hán tộc, làm bằng chứng thì rõ ràng là Tàu đã cực kỳ khủng hoảng vì nạn đói. Từ Bắc đánh xuống không xong, phía Tây chọt qua cũng bại, Tàu bèn lè lưỡi bò tuyên bố liếm hết Biển Đông, chắc muốn chiếm Việt Nam từ phía Đông, còn nếu lại đại bại y chang tiên tổ thì sẽ lè xuống chiếm Malaysia, Singapore, Thái Lan để đánh Việt Nam từ phía Nam để một công đôi ba việc: khó chiếm Việt thì sẵn đường thò tay đánh Thái vì đó cũng là vựa gạo ngon lành. Do cái đói ám ảnh triền miên suốt đời suốt kiếp, trong lúc chưa chiếm được Việt Nam, nước Tàu đã có những cơ sở sản xuất thực phẩm “siêu tốc” để đủ số lượng mà “nuôi dân”, chẳng hạn như chế tạo (điển hình là Tập đoàn Sữa Sanlu tức Tam Lộc, tỉnh Hà Bắc) sữa bột bằng cách lấy nguyên liệu melamine vốn dùng chế đồ gia dụng ắt làm trẻ em Tàu vừa hết đói vừa có bao tử cứng như chén bát sẽ ngốn ít thực phẩm hơn; chế tạo thực phẩm tăng trưởng siêu nhanh để nuôi cha mẹ của mấy em bé uống sữa Sanlu, khiến xuất hiện dưa hấu nổ tanh banh lốp bốp nhuộm đỏ cánh đồng vì lớn nhanh căng phồng quá sức như bong bóng, trà sữa trân châu có trộn cao phân tử polymer để tăng độ dai, bún tàu bằng bộp bắp trộn thuôc tẩy trắng chứa chì, rau cải chua ướp muối công nghiệp, nước tương làm từ tóc người thu được từ xác ở các bệnh viện, trứng gà giả, heo siêu nạc, v.v. Cái tài của những người lãnh đạo một đất nước khổng lồ đã được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quái gở của thời mông muội (vì muốn chứng tỏ công nghiệp luyện kim nước nhà đứng đầu thế giới mà Tàu đã bắt từng hộ dân phải nấu sắt ngoài sân để qua đó chứng minh Tàu có số lượng “nhà máy luyện kim” nhiều nhất thế giới), vừa sử dụng chiêu “siêu” (như siêu nạc, siêu dưa hấu, siêu sữa, v.v.), vừa lập lại thói quen của phường trộm cướp là…nhìn dáo dác xem ở gần đấy đâu đó có thì đến quơ lấy đem về (như lè lưỡi chiếm Biển Đông) để hy vọng sẽ nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước Tàu. Đó là một lối kiếm ăn hèn hạ kỳ quái xuất phát từ bản tính lưu manh xỏ lá mất dạy mỗi khi phải đối phó với nạn đói của những nhà lãnh đạo nước Tàu đội lốt Cộng sản.

(Kết luận: xin vui lòng đọc ở đoạn mở đầu.)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Email: hhphuoc@yahoo.com

Nhắn tin: 0988898399

Blog: http://antichina.blog.com

Tham khảo:

900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu



Hoa Tàu

Hoang Huu Phuoc, MIB

Ông Ngoại tôi là người Việt gốc Hoa, họ Lưu tên Vinh. Ông không là Ông Ngoại ruột, nhưng được Ba Má tôi cùng anh em chúng tôi hết mực thương yêu vì những gì tôi sắp kể về Ông nghe qua sẽ  giống như một tiểu thuyết ắt chỉ do kẻ giàu óc tưởng tượng vụng về cóp nhặt viết nên, mà tôi cũng không mong câu chuyện được bất kỳ ai tin vào tính chính xác của nó vì Ông Bà cùng những người Ông cưu mang cứu giúp ở Lục Tỉnh Nam Kỳ đều đã ra người thiên cổ, nay viết lại cứ xem như tác phẩm văn học fiction của trí tưởng tượng thêm thắt gia vị mắm muối để “mua vui cũng được một vài trống canh”, mà không cần phải là một non-fiction công trình tiểu sử biography đồ sộ hàn lâm, đơn giản vì Ông Ngoại tôi rất giản đơn.

Má tôi đang còn nằm trong bụng Bà Ngoại thì Ông Ngoại “ruột” mất. Hôm ấy, vừa về đến nhà giữa trưa hè nóng nực, Ông nhảy xuống sông bơi lội như rái cho mát mẻ rồi vào phòng trong ngủ sau khi âu yếm vuốt tóc người vợ trẻ, dặn vợ ăn cơm đừng chờ, đừng để con trong bụng phải đói, vì Ông cũng đã “nhậu sương sương” với mấy người bạn rồi. Đến chiều, Bà Ngoại vào đánh thức Ông dậy ăn cơm thì Ông đã bị trúng gió qua đời tự lúc nào không biết. Ba của Bà Ngoại tôi – tiếng miền Nam dân dã gọi là Ông…Cóc (một “phiên bản” khác của “Ông Cố”) của tôi – là người họ Nguyễn gốc Huế, cực kỳ nghiêm khắc, cực kỳ hoàng tộc phong kiến, cực kỳ gia trưởng: con trai con gái dù đã có vợ có chồng có dâu có rể cũng mặc, có lỗi là cứ roi vọt vun vút oằn oại hằn đỏ vết lưng trần. Bà Ngoại tôi vừa thọ tang chồng chưa được mấy tuần là mấy ông “giặc” Bình Xuyên, Năm Lửa, Năm Cụt (vừa chống Việt Minh, vừa cự Pháp, vừa chõi Mỹ và Ngô Đình Diệm) đánh nhau ở Trà Ôn (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long), mà phe nào thua là đốt nhà dân để dân túa chạy ra đường làm bia đỡ đạn cho tiện tháo chạy, thế là cả nhà Ông Cóc chạy tán loạn vì bị đốt nhà. Bà Ngoại tôi quay đi ngoảnh lại không thấy người thân, phải bê bụng bầu lê lết, té ngã xuống ruộng nước mênh mông. Ngay lúc ấy, một thanh niên người Hoa gầy gò cao lêu nghêu 1m80, đang chu du đến Tây Đô ngoạn cảnh, tiện đường đến Trà Ôn nghe hát cải lương vùng quê của tài tử Út Trà Ôn, ai dè lọt vòng lửa đạn, phải chạy lom khom dưới ruộng (vì người cao dễ ăn đạn), trời xui đât khiến vấp người nạn nữ bụng mang dạ chửa nằm chảy máu dầm dề, bèn phi thân như Triển Chiêu xà xuống ghé vai cõng chạy thẳng lưng, may nhờ chân dài xoạc cẳng sải bước thoắt thoăn hơn Forrest Gump, xuất chiêu Đại Bàng Triển Xí (đại bàng xòe   cánh) với thập bát liên hoàn cước bay vù vù trên mặt nước, chẳng mấy chốc vụt xa hơn tầm súng mút-cơ-tông hay cạc-bin, đại pháo made-in-tùm-lum-tà-la.

Đến khi dừng chân nơi đồng không mông quạnh, chàng trai thấy chuyện không xong vì người phụ nữ rên la, có dấu hiệu sảy thai, bèn trổ tài y thuật trước học lóm ở quê nhà ra tay đở đẻ, may sao cứu mẹ thì tròn trịa như bánh dày còn con thì vuông vức tựa bánh chưng, rồi để hai mẹ con nằm núp sau đụn rạ, chạy bộ nhiều cây số, đem vàng vòng hột xoàn lận ruột tượng ra đổi thức ăn đem về cho người nạn nữ, và ngồi chồm hổm  y như Lưu Bang (ông tổ của Lưu Bị, sử Tàu nói khi ngồi xổm thì đầu gối lên tới…lổ tai, còn đứng dậy thì tay dài quá gối) vừa quơ lá chuối quạt ruồi xua muỗi, vừa trong tư thế sẵn sàng cõng người mẹ và ôm đứa hài nhi tiếp tục cuộc marathon vạn lý trường di nếu nghe tiếng súng đì đùng kề cận. Khi chiến sự yên ắng, anh mướn xe thổ mộ đưa hai mẹ con về lại với gia đình, còn anh lúp xúp chạy bộ với bàn chân trần bên cạnh xe như bảo tiêu thời Anh Hùng Xạ Điêu của Hiệp Khách Hành hay Lệnh Xé Xác. Sự việc xảy ra sau đó không như anh kỳ vọng: Ông Cóc của tôi vừa nghe qua chuyện kể đã hươi trường côn thiết bảng mà Ông đã tịch thu của Tôn Hành Giả vun vút đen đét nguyền rủa Bà Ngoại tôi hư thân mất nết, mồ chồng chưa xanh cỏ sao dám để đàn ông chạm đến làm hỏng danh tiết phụ, tội tày tiên tổ, điếm nhục gia phong, ngàn đời ô uế, sao không tự vẫn cho đáng mặt tam tòng, lại vác mặt về khiến hỗ câu tứ đức. Cả nhà hùa theo sỉ vả (vì không muốn ăn roi Ông Cóc) khiến chàng trai vừa khóc vừa lạy vừa lùi, trong khi lời chửi bới tiếng Việt “thằng Tàu mất dạy!” đuổi theo bén gót.

Ấy vậy mà chàng trai ấy do tâm nhuần Khổng Mạnh, lòng thờ Quan Vũ Thánh Quân, cho rằng gia đình Việt nào đánh đuổi mình thậm tệ mới đúng là gia đình gia giáo gia phong noi gương giáo huấn nơi Cửa Khổng chốn Sân Trình, rất hiếm gặp trên đường chu du tứ xứ, lại thêm cảm thương người nạn nữ hồng nhan phận bạc mới tựa bóng tùng quân đã ra người quả phụ, chịu tiếng đời nhục nhã với gia môn cũng tại lỗi mình lăng xăng đỡ đẻ bế bồng, nên thề kiếp này quyết cưu mang cho trọn danh quân tử hầu xứng đức trượng phu, bèn liên tục cậy nhờ ông mai bà mối tìm đến lạy xin cho được cưới người mẹ trẻ đẻ non con ấy. Ông Cóc sau một thời gian la rầy ắt đau rát cổ, ngậm hàng trăm quả tắc chưng đường phèn và kẹo cay hiệu Con Tàu chẳng hiệu quả chi, không còn hăng hái thét gào, vã lại thấy cháu gái bụ bẫm dễ thương không có cha chăm sóc nên lòng xúc cảm, thêm con gái mình lỡ phận một đời, dù sao cũng đã mang tiếng bị ngoại nhân chạm đến thân vàng có còn chi giá ngọc, e khó bề tái giá với trượng phu gia giáo Việt Nam, lại thêm gia sản cháy sạch sành sanh nay phát hiện chính chàng trai kia lén đưa tiền mướn người dựng lại nhà cửa cho gia đình trú thân, nên cũng bấm bụng oai nghiêm ra điều kiện nghiệt ngã: “Nó muốn lấy con Huê thì tui sẽ gả, nhưng nó phải thề không được ngủ chung với con Huê vì phải tôn trọng vong hồn thằng chồng con Huê. Nó thề thì tui mới chịu gả, không thì mấy người nói nó đi cho khuất mắt tui, đừng có mà ngày nào cũng thập thò ngoài ngõ, tui cho nó vài côn nhị khúc Lý Đại Long là nó đi gặp tổ tiên nhà nó luôn!”

Và người thanh niên ấy vì duyên vì nợ với người nạn nữ Việt gốc Huế đã thề độc với cha vợ tương lai, để được phép trở thành Ba của Má tôi, tức người hầu hạ Bà Ngoại tôi và là Ông Ngoại yêu quý của chúng tôi. Ông đã bị gia đình Ông ruồng bỏ và cắt quyền thừa kế, vì Ông là con trai duy nhất lại đi cưới gái Việt có số sát phu có con riêng đã vậy sẽ không có con chung để lưu truyền giòng họ Lưu gia. Ông chấp nhận bỏ hết điền sản đất đai, bỏ phận công tử Lưu gia trang, hàng ngày lam lũ đi làm phụ bếp nấu ăn quán cơm hủ tíu mì kiếm tiền về nuôi vợ, chăm sóc con, quét dọn tươm tất bàn thờ và đốt nhang cúng vái người chồng trước của vợ mình mỗi ngày cơm nước rượu trà đủ đầy ba bửa, rồi tối ra nằm ngoài cửa thui thủi ngủ với muỗi và cóc nhái ểnh ương thằn lằn rắn mối. Khi Má tôi bắt đầu đi học, Ông ngày nào cũng cõng Má đến trường, rồi ngồi chồm hổm như Hán Cao Tổ Lưu Bang hút thuốc lá bên ly cà phê không đường ngoài cổng trường chờ đến giờ tan học. Má tôi mà té đau khóc lóc là ngay lập tức Ông hứng trận đòn roi trừng phạt của Ông Cóc. Ba tôi lúc từ Cần Thơ về Trà Ôn cưới Má tôi rồi đưa lên Sài Gòn sinh sống, nghe vợ kể lại, đã rơi nước mắt rồi hết mực thương kính Trượng Nhân (tức Bố Vợ, tức Ông Ngoại tôi), luôn tìm mua món ngon vật lạ gởi về Trà Ôn tặng Ông, thậm chí gởi nhiều chục bộ veston cho Ông dù Ông bảo Ông ốm nhom ốm nhách, cao cổ cò, mặc veston coi sao được, thắt cravat nhột và ngộp, đi giày tây phồng dộp cả chân, đeo đồng hồ ngứa ngáy cổ tay. Cả đời thui thủi một mình, chỉ biết chăm sóc con gái của vợ mình, nên khi con gái theo chồng lên Sài Gòn, Ông nhớ quá, cứ vài tuần đi xe đò lên Sài Gòn thăm con rể, bế bồng chị tôi, rồi bồng bế tôi, và các em tôi, cho đến khi đôi chân của Ông bất trung làm phản, không còn nghe theo mệnh lệnh của Ông.

 

Sau ngày 30/4/1975, kinh tế gia đình Ba Má tôi eo hẹp, tôi dạy học ngày đêm, cứ dư mười đồng nào là ra bưu điện gởi thư chuyển tiền về cho Ông Bà Ngoại hết mười đồng ấy, và cứ nghe Ông hay Bà bịnh là tôi lại vác ba-lô cùng lon Guigoz cơm (bo-bo) đi xe đò về Trà Ôn thời ngăn sông cấm chợ, đường sá chưa thông, mồm lâm râm van vái sẽ ăn chay trường (ba bốn tháng), miễn sao Ông Bà Ngoại nạn khỏi tai qua, khiến các cụ già dân cư Trà Ôn đến ngày nay vẫn còn nhắc đến giai thoại về tôi, “Cậu Trọng” hiếu thảo, cháu ngoại Năm Vinh, dân công tử bột Sài Gòn mà dám đi bộ vài chục cây số từ bến đò Trà Ôn về tới làng Thiện Mỹ xa xôi lúc đã xế chiều tại vùng đất chưa nơi nào có điện, lắm mồ nhiều mã gió rít lập lòe lửa ma trơi, vượt qua mấy chục cầu khỉ mà nơi nguy hiểm nhất lại ở khúc sông rộng với chín thân cây dừa rêu xanh trơn trợt xếp nối đuôi nhau vắt vẻo ngang sông, nơi ngày nay có chiếc cầu Bang Trang, nghe đâu do Việt Kiều Mỹ quê Trà Ôn đem tiền về xây tặng. Tội cho Ông vì Ông chăm sóc cưng chiều Bà Ngoại từ li từ tí hơn nửa thế kỷ, chẳng để Bà làm lụng gì, nên Bà không biết … chăm sóc con, và do Bà bị Ông cấm vất vả nấu ăn nơi bếp núc, nên khi Ông bịnh, Bà chỉ biết nhờ hàng xóm biết chữ ra bưu điện gởi giúp điện tín kêu “Thằng Trọng” về chứ Bà chẳng biết phải làm sao, khiến “Thằng Trọng” thu lu đu xe đò, loi choi nhảy cầu khỉ, về Trà Ôn cho Ông Ngoại uống thuốc, đưa Ông Ngoại xuống ghe đi Cần Thơ khám bịnh, và … mua đồ ăn cho Bà Ngoại.

 

Má tôi mang họ Nguyễn nhưng Má có cả thời thơ ấu và niên thiếu được dưỡng phụ người Hoa họ Lưu chăm sóc đủ đầy, luôn rộn tiếng cười vui.

Đối với tôi, những người Trung Quốc chọn Việt Nam làm quê hương như họ Mạc trốn bỏ Trung Hoa tìm đến Hà Tiên lập nghiệp là những người đã đem theo tinh túy văn hóa nhân nghĩa lễ trí tín đến vùng đất mới, nơi có những người dân Việt bản địa chân chất, trung hậu, khiến hòa quyện thành một cộng đồng người Việt cao thượng, đa nguồn gốc. Những người Việt gốc Hoa là như vậy đấy. Tôi hay gọi những người Trung Quốc nào có lòng dạ lang sói xấu xa là người Tàu. Nhưng tôi tự hào vì Ông Ngoại tôi là một người Hoa quân tử Tàu. Nhờ có Ông, từ Tàu đã không còn ý nghĩa khác với từ Hoa. Nhờ có Ông, nhiều chiến sĩ Việt Minh và binh lính Cộng Hòa được cứu sống, chẳng qua vì Ông nhân hậu, cứ thấy mấy quan Tây bắt trói Việt Minh đem đi bắn là Ông nhảy ra nhận bừa đó là mấy đứa cháu họ vì sợ bom đạn nên trốn dưới hầm tình cờ nhặt được súng Việt Minh vất bỏ lại chứ nào phải cầm vũ khí đánh Tây, rồi khi thấy Việt Cộng bắt được mấy lính Cộng Hòa đem ra xử là Ông lại chạy ào ra kể lể chuyện xưa đã cứu mấy “ông” Việt Minh (là bố của các chú Việt Cộng) nên hãy niệm tình mà tha cho mấy đứa cháu (Ông có nhiều “cháu” thế!) hiền như cục đất bị Cộng Hòa cưỡng ép bắt đi lính chứ đâu dám chống lại Cộng Sản, hay lắm khi Ông như Phật sống khi thấy mấy “cháu” Việt Cộng bị Cộng Hòa bắt được đem ra tra tấn dữ quá (do nhà Ông Bà Ngoại tôi ở đường Thống Chế Điều Bát, thị trấn Trà Ôn, đối diện sau lưng trại giam nên thường xuyên chứng kiến cảnh máu chảy thịt rơi với tiếng kêu la đau đớn suốt đêm ngày) Ông lại lần ruột tượng lấy hết tiền mua sắm rượu thịt mời các vị trưởng ty nhâm nhi rồi lạy lục xin tha cho mấy đứa “cháu” về “mần ruộng”. Vì vậy mà có chuyện lạ ở Trà Ôn là Ông Bà Ngoại tôi có nhiều con nuôi, nhiều cháu nuôi, mà Ông Bà chẳng thể nhớ tên, chẳng hề biết mặt, chỉ thấy họ cúi chào khi gặp ngoài đường, lúc Tết nhứt thì thấy họ đem quà đến lễ, hoặc khi có người vì thọ ơn mà đến lạy xin cho được làm con để phụng dưỡng sớm hôm, khiến Ông Bà có đàn con cháu lạ hoắc lạ kỳ vì thuộc tổng hợp của Việt Minh, Việt Cộng, và Cộng Hòa đến tìm tấp nập, cụng ly chan hòa anh anh em em dù lúc ấy vẫn chưa giải phóng, làm Má tôi e sợ, e ngại, e dè và e thẹn. Ông mất đã lâu trong cơ cực của những năm đầu giải phóng, và chúng tôi ngay khi có điều kiện đã cho cải táng trùng tu ngôi mộ của Ông kế bên ngôi mộ của Bà, và hàng năm đều cùng nhau vầy đoàn từ khắp nơi trên thế giới tựu về viếng mộ của Ông Bà Ngoại ít nhất ba bốn chuyến. Ba của chúng tôi thủa sinh tiền có mong muốn khi trăm tuổi sẽ được an nghĩ cạnh mộ Ông Ngoại, người Cha Vợ tuyệt vời. Khi Ba tôi mất năm 2008, chúng tôi đã thực hiện lời mong muốn giản đơn giản dị ấy của Ba.

 

Dường như những người Hoa tốt đẹp hậu duệ của những tấm gương tinh túy như Quan Công và Bao Công tất cả đã chọn Việt Nam làm quê hương mới, vì dường như Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay là xứ sở của hậu duệ của những đối tượng mà thanh long đao của Quan Công và cẩu đầu đao của Bao Công đã từng chạm đến không chỉ một lần, do tư cách đốn mạt và dã tâm súc vật bò thè lưỡi của chúng.

Chúng tôi tự hào có một Ông Ngoại tuyệt vời người Việt gốc Hoa, cư dân Huyện Thiện Mỹ, Thị trấn Trà Ôn, Tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam Quốc, họ Lưu tên Vinh, tự Năm Vinh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Blog: http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com, http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com



Giặc Tàu Mọi Rợ

Hoang Huu Phuoc, MIB

Sử ghi lại rằng vào đời Hậu Lê, hai đại thần Giang Văn Minh (Phúc Lộc Hầu) và Nguyễn Duy Hiểu (Thiêm Đô Ngự Sử) được vua cử cùng làm chánh sứ đi với bốn vị phó sứ lên đường sang Tàu cầu phong và tiến cống nhà Minh.

Để làm nhục sứ thần nước Việt, hoàng đế Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm trong lễ tiếp đón phái đoàn ngày 02-6-1639 đã ra vế đối “Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục” ý nói trụ đồng đến nay đã rêu xanh, nhắc đến tích Mã Viện chiếm đóng nước Việt sau khi bức hạ Hai Bà Trưng đã cho dựng một cột đồng với lời đe dọa dân Nam hãy khôn hồn mà giữ cho cột đứng vững thiên thu, bằng không thì ngày nào trụ ngã ngày đó dân Nam sẽ bị tuyệt diệt, ý nói người Việt ắt đã vì run sợ mà giữ cột trụ đứng yên qua quá nhiều năm tháng đến nỗi phải xanh rêu mà vẫn chưa dám chống lại thiên triều. Chánh sứ Giang Văn Minh đã hiên ngang dõng dạc trước triều đình Đại Minh mà đối rằng “Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” ý nói Sông Bạch Đằng sau ba lần quân Tàu đại bại cho đến nay nước vẫn còn đỏ máu Tàu tanh. Minh Sùng Trinh nộ khí xung thiên, bất chấp nghi lễ ngoại giao cấm chém sứ thần, đã ra lệnh gắn trám đường vào miệng và mắt của Giang Văn Minh rồi mổ bụng tại chỗ để xem gan to mật lớn đến dường nào mà dám nói chõi với thiên triều, đồng thời thảm sát chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu do tội dám lên tiếng đồng lòng giữ gìn quốc thể. Không rõ do ân hận vì hành động tàn bạo làm điếm nhục uy phong hoàng triều Đại Minh đối với các chư hầu, hay do khiếp sợ dân Việt nhổ trụ đồng Mã Viện tiến quân qua đánh cho Dương Tử Giang nhuộm đỏ máu Nhà Minh, Sùng Trinh đã lật đật cho ướp xác các quan chánh sứ bằng bột thủy ngân và long trọng dùng đại lễ cho đưa thi hài về nước Việt.

Phái đoàn “tiểu quốc” lặn lội vượt đường xa quan san diệu vợi mất hàng năm trời mới đến đặng kinh đô mà dâng cống với biết bao trân châu bảo ngọc, sừng tê ngà voi, mỹ nữ, nghệ nhân, lương y, thảo dược, cùng vô số của cải khác theo lệ “thiên triều” và “xuống nước” xưng “thần” để cầu mong vua Tàu ban cho vua Việt một tước vương, thế mà hoàng đế nước Tàu tuy lớn lối trấn giữ “trung tâm vũ trụ” (Trung Hoa), vẫn là đứa thất phu khinh thế ngạo vật ngồi xổm trên chồng sách Tứ Thư Ngũ Kinh, mồm rống ta đây hào quang thiên mệnh thiên tử, gác chân lên đầu bao bậc “thánh nhân” như lão Khổng và lão Lão, xỉa ngón tay trỏ khoe bao điều kỳ vĩ khác, dùng thói lưu manh đàng điếm, xó chợ đầu đường, khát máu bạo tàn, đớn hèn ti tiện, mổ bụng phanh thây sứ thần thám hoa Giang Văn Minh và sát hại sứ thần tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu. Tuy dân tộc Việt tôn kính nhị vị chánh sứ hy sinh giữ gìn quốc thể, đã đưa tên hai cụ vào bia đá thứ 32 tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, song thù này có người Việt chân chính nào lại dám giây phút lãng quên, có bậc nghĩa khí hào kiệt nào của đất Nam không trỏ tay về phương Bắc nghiến răng thề quyết không đội chung trời, và có chính nhân quân tử nào hậu duệ Hùng Vương không hứa với tiền nhân sẽ có ngày diệt tiêu Tàu giặc con cháu Từ Hy.

Nay đến bọn lóc chóc Đài Loan cũng dựa hơi giặc mọi, tuy thân tàn ma dại (vì ngay đến Mỹ cũng không dám công nhận là quốc gia do sợ Tàu nộ khí xung thiên cho mổ bụng xem gan, trám đường vô họng, nên tuy bán cho vũ khí cực kỳ hiện đại y như với đồng minh thân cận khác, vẫn cứ muôn đời gọi Đài Loan chỉ là “lãnh thổ” mà thôi), cũng bày trò chiếm đóng hải đào Trường Sa (vừa làm Việt nổi trận lôi đình, vừa làm Mỹ cà lăm lắp bắp trong trận đấu khẩu với Tàu), cứ tưởng ta đây nòi giống Mã Viện trụ đồng, mà dốt Sử nên chớ biết Bạch Đằng Giang còn tanh đỏ máu của tổ sư tổ mẹ tổ cha Mã Viện *.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com, http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com

Ghi chú: * tổ sư, tổ mẹ, tổ cha là những từ viết tắt của “tổ tiên của…thầy”, “tổ tiên của…mẹ”, và “tổ tiên của…cha”.

Tài liệu tham khảo:

Văn Long. 20-8-2012. Sứ Thần Vì Quốc Thể. Báo Đại Biểu Nhân Dân, trang 5.



Tấm Bản Đồ Mới Của Việt Nam: Hé Màn Một Sự Thật Lịch Sử

Hoang Huu Phuoc, MIB

Đây là tấm bản đồ mới của ViệtNam:

và đây là lý do cho sự tồn tại của nó:

Nguyên bọn Tàu (tức tên tục của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) cho rằng xưa kia bọn thương nhân của chúng đã từng giong buồm ghé ngang qua Hoàng Sa và Trường Sa để tiêu tiểu nên nay chúng tuyên bố các quần đảo ấy thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của chúng, cứ như thể toàn bộ các khoa học gia, các trí thức của Tàu đều đến Hoàng Sa và Trường Sa để bò bốn chân như chó, dùng mũi hít hà đánh hơi phân tích mùi vị rồi hét toáng mừng vui Eureka rằng đã có chứng cứ tổ tiên chúng đã từng vén quần xịt nước khai ngấy tưới lên khắp chốn trên các đảo này. Theo đúng lời dạy của tiền nhân rằng gậy ông nên đập lại lưng ông, có bậc thức giả kia ở nước Việt cười to khoái trá, phe phẩy quạt mo, nhấm chút trà trinh nữ hoàng cung túi lọc, rồi chậm rãi khoan thai từ tốn bao dung quả quyết phán rằng:

A) Theo Sử Sách Ngàn Xưa

Nguyên sử thế giới, sử Tàu, và sử Việt đều ghi rằng tổ tiên Việt phát xuất từ Xích Quỷ miền Nam sông Dương Tử, chốn Động Đình Hồ cõi Hồ Nam, được nhắc đến trong truyền thuyết Hồng Bàng, bao gồm luôn các vùng đất Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, Chiết Giang, Giang Tô, Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Châu, v.v. Người Việt từng đánh bại Nhà Tần. Khi các cuộc chiến tranh tàn khốc thời Liệt Quốc Đông Châu và Chiến Quốc Xuân Thu đã khiến dân Việt thiên di về phương Nam, nhưng một bộ phận vẫn còn ở lại trên toàn vùng bao la rộng lớn tại các nước đang xưng bá xưng hùng, cố gắng tồn tại hòa nhập hình thành các cư dân bản địa mới, nhưng không bao giờ quên dân tộc mình đang biền biệt chốn trời Nam, từ đó phát sinh một kỳ vấn lịch sử mà nay tôi xin được làm sáng tỏ vì sao có hiện tượng Tiên Phát Chế NhânPhạt Tống Lộ Bố Văn của trận viễn chinh Phạt Tống và thiên hùng sử ca Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt.

Thế giới loài người đều biết Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam dùng kế “đem đại binh đánh trước để chặn thế mạnh của giặc” chủ động tấn công “thiên triều”, đè bẹp ý chí xâm lược, phá tan uy danh, đánh bại lực lượng quân sự, và làm hao tổn kinh tế tài chính của triều đại Bắc Tống, biến cơ nghiệp Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn gầy dựng từ năm 960 trở thành mồi ngon cho các xứ Tây Hạ, Liêu Quốc và Nhà Kim xâu xé đến bại vong. Ông còn là là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam ngạo nghễ dương oai diệu võ sử dụng cung cách mà tất cả các hoàng đế “thiên triều” luôn áp dụng mỗi khi xua quân tràn qua biên giới các tiểu quốc lân bang trong các cuộc Chinh Tây, Tảo Bắc, Bình Nam, Chinh Đông: đó là phát hịch văn bố cáo thị uy thiên hạ các tiểu quốc. Bài hịch văn bố cáo Phạt Tống Lộ Bố Văn phát đi trước đến các vùng lãnh thổ nước Tống như thể Tống quốc là xứ sở man di mọi rợ  và thiên triều Việt vâng mệnh Trời thuận thiên hành đạo ra tay cứu dân Tống, có nội dung phán dạy của đấng bề trên và bậc trưởng thượng đầy ngạo nghễ. Sử ghi rằng ngày 27 tháng 10 năm 1075, Lý Thường Kiệt khởi đại binh tấn công vào đất Tống, thực hiện đại cuộc kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng, thấy điều nghĩa hiệp mà không làm thì sao đáng gọi là trang vũ dũng, chứng kiến cảnh dân Tống lầm than mà không ra tay cứu độ thì sao đáng gọi đấng anh hùng. Dân Tống đọc bố cáo bao xiết mừng vui, bày bàn hương án quỳ phục lạy hai bên đường tung hô vạn tuế, dâng tặng quân lương, cung cấp đầy đủ thông tin các trận tuyến, đón chào quân đại nghĩa. Lý Thường Kiệt cũng là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam làm vẻ vang rạng ngời danh tiếng hải quân khi đưa hạm đội thủy binh từ Móng Cái đến chiếm Khâm Châu ngày 30/12/1075, không phải tốn đến một mũi tên hòn đạn do hiệu quả tuyệt diệu của tổ chức tình báo và phản gián: quân Tống khiếp đảm đầu hàng, còn toàn bộ tướng lĩnh trấn thủ Khâm Châu đều bị Lý Thường Kiệt bắt sống tại bàn yến tiệc rồi sai quân đem ra xử trảm bêu đầu thị chúng, khai mào cho chiến công bức hạ Liêm Châu chỉ sau đó 3 ngày giết sạch các văn quan võ tướng trấn nhậm Liêm Châu, với sự phối hợp của lục quân trước đó đã làm cỏ tất cả các thành trì, doanh trại Tống quân trên đường tràn sang Phạt Tống. Sau hai tuần bình định vỗ an bá tánh, bắt hàng vạn tù binh vận chuyển tất cả kho tàng chiếm được về nước Việt, Lý Thường Kiệt đưa quân từ Khâm Châu tiến sang tấn công vây hãm Ung Châu, trong khi đạo quân đã triệt hạ Liêm Châu tiến chiếm Bạch Châu chặn đường vận lương tiếp viện của quân Tống. Dù thành trì chiến lược Ung Châu cực kỳ kiên cố và được nhà Tống tập trung toàn lực ra sức cứu viện, Lý Thường Kiệt vẫn lấy thủ cấp Tống Tướng Trương Thủ Tiết cùng các đại tướng khác của đoàn quân tiếp cứu như lấy đồ trong túi, và chiếm Ung Châu sau 42 ngày đêm đã viện công đồn. Lý Thường Kiệt bắt tù hàng binh phá tan Ung Châu, san thành bình địa để lấy đá lấp sông triệt đường thủy binh, chặn dòng thủy lộ, xóa sổ vĩnh viễn một di tích lịch sử trên bản đồ của nhà Tống khiến muôn đời không thể lưu truyền hậu thế Trung Hoa. Thừa thắng, Lý Thường Kiệt xua quân khí thế ào ạt đánh chiếm Tân Châu. Quan quân nhà Tống nghe tin vội bỏ thành đào thoát khiến các châu lân cận tự động tháo chạy dù không nằm trên lộ trình của đoàn quân Phạt Tống. Quân Nam tiến quân vũ bảo như vào chỗ không người, chiếm đóng cả vùng lãnh thổ mênh mông. Cuộc hành quân thần tốc của Lý Thường Kiệt nhằm đánh phủ đầu vào đất Tống đại thắng. Lý Thường Kiệt đường bệ rút quân, đem theo vô số tù binh bắt được từ Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu giải về nước Việt cho vào làm phu khai khẩn vùng đất ngày nay là Thanh – Nghệ, để cải tạo, lấy công sức lao động hầu chuộc tội lỗi đã dám nhòm ngó lờn mặt nước Nam.

Sử còn kể thêm rằng Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam có khả năng lập phòng tuyến chiến lược chặn đứng đoàn quân viễn chinh xâm lược hùng hậu của Nhà Tống chỉ sau 5 tháng kể từ khi ca khúc khải hoàn từ cuộc viễn chinh Phạt Tống, rồi đánh bại luôn quân Tống trên đất Việt. Phòng tuyến Sông Như Nguyệt đã giam chân đại binh báo thù của Tống, làm tiêu hao lực lượng quân Tống đến nỗi khi mừng rỡ nghe Lý Thường Kiệt ra ân mở cho con đường sống, tướng Tống là Quách Quỳ vừa vội vã cho quân khẩn cấp di tản khỏi nước Việt, vừa kinh hoàng trước số liệu kiểm điểm thống kê cho thấy chỉ sau 8 tháng tấn công nước Việt, 300.000 quân sĩ thiện chiến cùng dân phu lực lưỡng được đưa sang đánh Việt nay chỉ có 23.400 người còn sống để lết về nước Tống, 100.000 chiến mã chỉ còn 3.174 con thương tật, hao tổn ngân khố hết 5.190.000 lượng vàng ròng. Đặc biệt, cũng như thần uy của Phạt Tống Lộ Bố Văn đã khiến Nhà Tống đại bại trên đất Tống, thần uy của Nam Quốc Sơn Hà  khiến Nhà Tống đại bại trên đất Việt:

NướcNamVốn Của VuaNam,

Sách Trời Kia Đã Rõ Ràng Định Phân,

Giặc Cuồng Sao Dám Lấn Xâm,

ChúngBayRồi Sẽ Chuốc Phần Bại Vong.

B) Theo Biện Luận Lý Giải Phân Tích Của Hoàng Hữu Phước

Vì sao Lý Thường Kiệt lại có thể giương oai diệu võ thị thần uy nơi Tống Quốc như chốn không người? Rất đơn giản: vì dân chúng sinh sống trên toàn vùng đất bao la từ phía Nam Sông Dương Tử đến biên giới Việt Nam đều không quên gốc tích tổ tiên mình là người Việt ở Xích Quỷ, nên đã một mặt bí mật cung cấp tin tình báo cho Lý Thường Kiệt, một mặt phân công một số ở lại chu cấp lương thực dẫn đường cho quân Nam tiến như chẻ tre, một mặt đóng vai nạn dân chạy loạn kéo vào các thành tá túc để thừa cơ mở cổng thành rước quân Nam, một mặt giả ùn ùn tháo chạy về phương Bắc để dâng đất cho quân binh Lý Thường Kiệt dễ dàng thu tóm lại bờ cõi Xích Quỷ của cha ông người Việt. Nhưng do Nhà Lý vì bốn chữ chính nghĩa diệt tà, đã phụ lòng tốt trung thành của người dân Tống gốc Việt khi ra lịnh thu binh rút về Việt quốc.

Và để tung hỏa mù nhằm bảo vệ người Tống gốc Việt, Nhà Lý phải tôn vinh rằng uy dũng thiên tài quân sự của Lý Thường Kiệt đã khiến người Tống khiếp sợ rụng rời bỏ chạy. Nhưng sự hồ nghi của bọn Tàu gốc phương Bắc vẫn cứ lởn vởn cho đến năm 1978 mới rõ mười mươi khi chúng xua quân tràn qua toàn tuyến biên giới phía Bắc tấn công nước Việt bị thua xiểng liểng do quân thiện chiến gốc miền Nam Trung Quốc chủ động chưa đánh đã hàng vì nhớ lời dặn của tổ tiên đừng bao giờ được động đến anh em người Việt, còn bọn phỉ từ phương Bắc Trung Quốc thì chỉ giỏi cướp phá, hãm hiếp, tàn sát dân Việt, chứ không biết đánh trận nên phải đền tội xác nằm ngập ngụa chồng chất khắp biên cương. Đây là lý do Tàu không còn tin cậy vào lục quân vốn tuyển mộ từ toàn vùng phía Nam Dương Tử Giang, hễ xua bộ binh tấn công là luôn luôn thảm bại, nên mới buộc phải ra uy gào thét chốn Biển Đông với hy vọng kỳ này sẽ thắng do trên tàu chiến tàu ngầm không có ai là gốc Việt Xích Quỷ vì tuyển toàn từ các tỉnh vùng ven biển phía Đông cận Triều Tiên.

Nói tóm lại, cả vùng rộng lớn từ Dương Tử Giang trở xuống đều có dấu tích sử cổ đại của tộc người Việt miền Xích Quỷ, dấu tích sử trung đại của nhân dân gốc Việt toàn vùng chào đón đoàn quân Bắc Phạt của Lý Thường Kiệt, và dấu tích sử cận đại của nhân dân gốc Việt toàn vùng phá tan kế hoạch Nam Phạt của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Chưa kể dấu tích văn hóa văn chương văn học văn vẻ khu vực phíaNamsông Dương Tử luôn tương đồng với sự phát triển văn hóa văn chương văn học văn vẻ của ViệtNam. Và nếu muốn, toàn bộ các khoa học gia, các trí thức của Tàu nên đến khu vực từ phía Nam Dương Tử Giang để bò bốn chân như chó, dùng mũi hít hà đánh hơi phân tích mùi vị để biết thế nào là lễ độ với tộc Việt Xích Quỷ.

Có một nhà nho nọ người Việt họ Lăng tên chữ là Tần, quê tận miệt Sài Côn, tổ tiên đến từ vùng Xích Quỷ thời thượng cổ, đã có hai bài thơ về “quê cha đất tổ” nòi giống Việt như sau:

Núi núi non non đỉnh dõi trông,

Sông sông nước nước cảnh mênh mông;

Động Đình Hồ ấy quê nòi giống,

Hoàng Sa Đảo nọ đất tổ tông.

Xoạc cẳng băng ngang dòng Dương Tử,

Vói tay thâu lại cõi HồNam.

Việt Quốc địa đồ vươn cao rộng,

Xích Quỷ hoàn nguyên quyết lập công.

Xích Quỷ hoàn nguyên ấy đại công,

Dương Tử sông kia quyết cưỡi rồng,

Cõi Việt Động Đình đem điểm xuyết,

TrờiNamcẩm tú rạng tổ tông.

Trống đồng vỗ mặt ngân dậy núi,

Tiêu Tương phẩy quạt thổi rạp thông.

Thu về Việt Quốc giang sơn rộng,

Bờ cõi mênh mông thỏa thỉ bồng.

Bọn Tàu điên rồ điên dại điên loạn điên khùng chủ trương hễ có người Tàu “tè bậy” nơi nào, nơi ấy tất là vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Tàu. Bọn đàn em chiếu dưới theo đóm ăn tàn rất có thể cũng nhơi lại luận điệu này để ám chỉ gì đó với phần lãnh thổ của ViệtNam. Đó là chủ trương dơ bẩn, hèn hạ, rồ-dại-loạn-khùng. Không như vậy, Lăng Tần Tiên Sinh xứ Việt cho ra luận cứ đoan chính “trên cơ” rằng hễ nơi nào sử có ghi là nơi phát xuất của tổ tiên Việt, có người bản xứ ra sức giúp quan quân Việt đánh thắng như chẻ tre, và có người bản xứ giúp làm phá sản tất cả các cuộc tấn công quân sự của xứ ấy vào đất Việt, thì nơi ấy tất là vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam.  Đó là lý do vì sao bản đồ mới của ViệtNamsẽ có hình dạng một cây cổ thụ uy nghi thế này:

 

Đáp lại sự điên dại của loài chó bẩn nước Tàu sủa bậy cắn càn là lời khẳng định: Nước ViệtNamphải bao gồm toàn bộ vùng cương thổ từ Dương Tử Giang. Đây là một sự thật không thể tranh cải về phương diện sử học của nhân loại vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

1) 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. 30-05-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

2) Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn. 28-03-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19544/vinh-buc-du-do-rach-va-moi-hon

3) www.emotino.com



Siêu Nhân và Tồi Nhân

Điểm Giống Nhau & Khác Nhau

(Superman vs Bottom-rate man)

Hoang Huu Phuoc, MIB

23-7-2012

Trên Trái Đất của Thái Dương Hệ này trong vũ trụ bao la kia thuộc Dải Ngân Hà đó, có hai quốc gia giống nhau như đúc nhưng đồng thời cách nhau một trời một vực vì một ở trên đỉnh cao chót vót hào quang còn một lại ở tận đáy sâu thăm thẳm bần cùng: đó là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, mà ở đây vì lý do tiết kiệm chữ nghĩa – vì tiết kiệm là quốc sách – sẽ gọi tắt là Mỹ với Tàu. Thế thì điểm giống nhau y hệt là ở chỗ nào cơ chứ?

Mỹ là siêu cường miên viễn. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Mỹ. Tức thật. Ngay cả đồng minh như Anh như Pháp cũng chống Mỹ, xạo xạo hữu hảo ngoài mặt chứ chơi xỏ được là chơi ngay. Bỏ tiền tỷ tỷ đô để diệt bao chế độ rồi ủng hộ dựng xây bao chế độ mới, để rồi vài chục năm sau các chế độ ấy bị sụp đổ vì toàn bọn độc tài gia đình trị khét tiếng từ el-Haj Mohammed Suharto của Indonesia, Park Chung-hee của Korea, Muhammad Hosni El Mubarak của Ai Cập, v.v. bị ghét bỏ bởi dân chúng của họ; hoặc có chế độ trở mặt phản phúc như Ngô Đình Diệm của Việt Nam để Mỹ phải gạt lệ cá sấu cho phép sát hại diệt tiêu; hay chế độ Nguyễn Văn Thiệu chơi xỏ một mặt lấy ma túy từ Tam Giác Vàng giết lần mòn binh sĩ Mỹ, một mặt làm bể kế hoạch rút quân trong danh dự của Mỹ bằng cách phá Hiệp Định Paris, một mặt trước khi đào tẩu đã khóc bù lu bù loa trên TV công khai mắng nhiếc Mỹ hèn hạ bỏ rơi đồng minh, v.v. và v.v.; khiến người Mỹ không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Chúa Trời bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, Holywood đẻ ra nhân vật Superman cứu nguy nhân loại, được loài người xưng tụng anh hùng, đẹp trai hết biết, mình mẩy đầy sơ với múi, hùng mạnh vô song, cứ như là thiên sứ. Người Việt ta gọi anh ấy là Siêu Nhân. Những thứ tương cận với Siêu Nhân thuộc giống đực còn có Người Dơi, Người Nhện, Thần Sấm (Thor), Người Cao Su, Người Điện Quang, và Người …Xanh Lè (Hulk), vân vân và vân vân, và để xứng đôi vừa lứa với các đấng anh hùng ấy, Holywood rặn đẻ thêm giống cái gồm các nàng Nữ Siêu Nhân, Nữ Người Dơi, v.v và v.v; biến nước Mỹ thành nơi duy nhất trên thế gian này mà các thiên sứ uy dũng từ thượng giới đều tập trung về tất. Tuy người dân khắp nơi trên thế giới vẫn chống Mỹ, họ sẵn sàng bỏ tiền túi ra để chầu chực chờ xem các phim ấy, khiến nước Mỹ cũng được an ủi rằng văn hóa của ta lấn át văn hóa của họ, làm bạn Pháp mày ê mặt ủ chịu trận te tua.

Tàu là siêu cường mới nổi. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Tàu. Tức thật. Ngay cả các nước đại siêu cường phải chú mục há hốc mồm nhỏ nước miếng ràn rụa hai bên mép lỏ mắt nhìn trân trân túi tiền đô nặng trĩu của Tàu, ve vãn Tàu bỏ tiền ra cứu độ chúng sinh qua cơn sóng gió mà tiếng hàn lâm gọi là suy thoái kinh tế toàn cầu. Vậy mà tiền thì chúng nhận, mà mồm vẫn không ngưng mắng tổ chửi tiên. Thế mới tức chứ lị. Ngay cả gia tài văn học Tàu có mấy bộ sách bấy lâu nay khoe là kỳ quan thiên cổ cũng bị một gã nọ tên gọi Lăng Tần ở cái tiểu quốc gì gì ấy mắng cho là đồ bá láp, gọi các anh hùng Lương Sơn Bạc là bọn cướp cạn bán bánh bao nhân thịt người mới tức chớ! Thế là Tàu ta do không có Tàulywood như Holywood nên vén áo khoe bắp thịt tay, tụt quần khoe bắp thịt chân, dùng sức cơ bắp quẫy đạp tung tóe nước Biển Đông như để dằn mặt toàn vùng Đông Nam Á rằng ấy ao ta, lấn đất Ấn Độ như để chứng minh kinh Phật tự có trên đất Tàu chứ đâu phải do con khỉ con heo quảy gánh vác về. Bỏ tiền mua hàng không mẫu hạm của Ukraineđể bị cười vô mặt là sắm thứ thổ tả tơi tả tả tơi. Làm gì cũng bị cười chê, khiến Tàu không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Ngọc Hoàng Thượng Đế bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là vừa đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, vừa tức quá hóa khùng, đói quá hóa dại, Tàu ta bèn rao bán hàng trong nhà người khác, gọi thầu khai thác dầu hỏa mấy lô thềm lục địa của Việt Nam, khiến thế gian lần này được phen cười lớn, rúng động Thiên Cung, rung rinh Thủy Giới, khiến Thượng Đế Ngọc Hoàng phải cúi xuống mà xem, bật cười văng nước mắt nước mũi thành mưa to gió lớn ngập lụt Bắc Kinh; Long Vương Đại Hải ngóc đầu lên nghía, té cười đập mình xuống nước, gây sóng thần ghê gớm, mở miệng mắng “Tổ Cha Mi” bị nước biển tràn vào làm sặc họng, tạo thành âm thanh là lạ mà người đời nghe lộn thành…tsunami.

Thế đấy. Mỹ và Tàu giống y nhau ở chỗ cả hai bị thiên hạ ghét bỏ.

Và thế đấy. Mỹ và Tàu khác nhau ở chỗ Mỹ hốt bạc và văn hóa vang danh hoàn vũ, còn Tàu mất tiền và ô danh toàn thế giới.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tiện Nhân.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tồi Nhân.

Và do tất cả các từ điển tiếng Anh trên toàn thế giới đều không có từ phản nghĩa của “super” tức “siêu” của siêu nhân superman; và do cái sở học của Trung Hoa đã đổ hết về Việt Nam nên Hoàng Hữu Phước tôi đây sáng chế ra chữ tiếng Anh “bottom-rate man” (có thể áp dụng cách tạo khác của 17 cách tạo tính từ để cho ra “bottom-rated man” hay “bottom-ranked man” hoặc “good-for-nothing wretched” tức … “đồ vất đi” thì cũng được) để có Tiện-Tồi-Bết-Bát-Vất-Đi-Nhân làm từ phản nghĩa cho Siêu Nhân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế



Ngộ Số

Hoang Huu Phuoc, MIB

Trong bài viết Sự Thật Về Võ Thuật và Y Thuật Tàu, tôi có viết về những phát hiện của tôi lúc lên tám lên mười về bản chất của các “anh hùng nghĩa hiệp”, các môn phái, và các “thần y” Tàu qua những quyển truyện kiếm hiệp và dã sử Tàu.

Cũng qua những quyển sách tổ xạo đó, tôi vừa không hiểu tại sao các tác giả truyện kiếm hiệp Tàu lại tự bôi tro trát trấu lên dân tộc mình, vừa lấy làm lạ khi đọc đến những đoạn về các trang kiếm khách nghĩa dũng Tàu mỗi khi dừng bước nghĩ chân bên bờ suối là cởi áo (và quần) ra để bắt chấy rận, khiến tôi không thể không buộc phải hiểu như sau:
1) Tổ tiên người Tàu ắt ít tắm (do truyện kiếm hiệp Tàu hay tả cảnh tuyết lạnh giá băng, từ đó suy ra họ ít tắm rửa), lại lột da thú phơi khô để khoác lên người giữ ấm, khiến người đọc truyện rất dễ liên tưởng đến một chuỗi những tĩnh từ kinh hãi của … đầy ghét, hôi hám, mốc meo, lác liếc, dơ dáy, bẩn thỉu, v.v.

2) Truyện kiếm hiệp Tàu hay có cảnh huynh huynh muội muội nam nam nữ nữ cùng môn phái đi chu du khắp chốn võ lâm, ăn chung món (đùi thịt nướng), nốc chung bầu (rượu), ngủ chung lều, đắp chung chăn (da lạc đà), nhưng cực kỳ đoan chính đức hạnh không bao giờ có chuyện sờ mó dục tình dan díu với nhau; ngỡ đâu do Ông Khổng Khâu dạy đời thành công, hóa ra tại bị vì bởi lý do như đã kể trong số 1 ở trên khiến họ gần trong gang tấc mà thành quan san vì ợ hơi liên tục và mạnh ai nấy bịt mũi mà ngủ.

3) Cũng vì các kiếm khách thường xuyên bắt chấy rận nên có thói quen hay đếm số xem thành tích hôm nay bắt được mấy con và cho vào mồm cắn nhai mấy con; mà phàm kẻ cắm đầu học như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ chữ” tức là “cuồng chữ” tức là hóa bịnh tâm thần mở miệng lảm nhảm toàn là ngữ với từ rời rạc không đâu vào đâu, nên đấng cắm đầu đếm chấy rận như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ số” tức là “cuồng số” tức là hóa rồ mở miệng là lảm nhảm toàn số, mặc định rằng nếu không có số thì không thành gì sất, không sống được, không phải anh hùng, khiến sau vài ngàn năm tiến hóa biến thành gien trỗi, và hậu duệ Tàu ngày nay mở miệng mà không có số quyết không thành văn vẻ.
Cái “ngộ số” ấy được thể hiện như sau:

Đối với các pho dã sử hoặc kiếm hiệp thì Tàu luôn cố nhét số vô, chẳng hạn Thập Tam (13) Thái Bảo, Thập Tứ (14) Nữ Anh Hào, Thất (7) Hiệp Ngũ (5) Nghĩa, Thập Bát (18) Liên Hoàn Cước, Tứ (4) Thư Ngũ (5) Kinh, Ngũ (5) Hổ Bình Tây, v.v., thậm chí chỉ có một ngón tay trỏ xỉa vô mặt người ta vậy mà cũng phải cố hê thành con số gọi là … Nhất (1) Dương Chỉ, mới thấy cái “ngộ số” kiểu Tàu trên đời có một không hai.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Nga thì Tàu có 16 chữ vàng: “Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời”.
Đối với quan hệ hữu hảo cùng Việt thì Tàu có 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.”
Hữu nghị thì là hữu nghị, cớ gì phải chờ ở sát vách làm “láng giềng” mới hữu nghị, nên rõ ràng là Tàu bị bí. Với Nga thì cái “hữu nghị” ấy kèm theo “muôn đời” nên ắt có số đếm hẳn hoi (muôn = 10.000 đời), còn với Việt thì Tàu thấy không có số đếm, e vừa bất công với Việt vừa tổn hại uy danh Tàu (“ngộ thích số lắm đa” viết tắt thành…“ngộ số”) nên Tàu mới đẻ ra Ngũ Long tức 5 con rồng tức 5 đại cơ quan chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để tỏ tình thương mến thương.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ để chữa chứng nghiện hút thuốc người ta cho người nghiện hút những điếu thuốc không có hoặc có ít nicotin, tức chung quy cũng là hút thuốc; thì để chữa chứng ngộ số người ta cũng cho người Tàu mấy con số để chữa bịnh, bởi vậy mà có vụ Bát (8) Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh dạy cho người Tàu một bài học về số 8, khiến Từ Hy Thái Hậu phải lăn lê bò toài chuồn khỏi Tử Cấm Thành, dẫn đến sự cáo chung của triều đại phong kiến Tàu.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ ngôn ngữ Tàu dỡ ẹc nên phim Tàu thua phim Hàn vì tiếng Hàn đầy âm điệu bổng trầm nũng na nũng nịu, đặc biệt tiếng Tàu thua xa tiếng Việt nên tiếng Hán Việt hay hơn tiếng Tàu, và ngoài bài học về số 8 mà Tàu đã nhận từ… Bát (8) Quốc khiến nước Tàu bại trận, họ cũng sẽ bị ngôn ngữ Việt (nhất là tiếng Việt miền Nam) làm cho xiểng liểng vì Ngũ Long đọc y chang Ngủ Long, tức là 5 con rồng biến thành 1 con rồng mà lại là rồng nằm ngủ khò thì khác gì con giun đất làm món ăn cho gà mái Việt, báo trước 5 đại cơ quan ấy thân sớm chìm đáy nước Biển Đông.

Vì chứng bịnh “Ngộ Số” do chính tôi phát hiện nhờ đọc truyện kiếm hiệp Tàu nên biết nó xuất phát từ tổ tiên Tàu di truyền đến hậu duệ Tàu, nên theo phép hàn lâm phương Tây đối với các vấn đề học thuật hàn lâm, tôi thấy mình có quyền đặt tên cho chứng bịnh thuần Tàu ấy để nhân loại sử dụng chung. Theo kiểu Tây, khi phát hiện vi trùng mới, người ta lấy tên nhà y học phát hiện để đặt luôn cho vi trùng ấy. Nhưng Tàu tệ hại hơn vi khuẩn vi trùng nên tôi chẳng dại gì lấy tên mình đặt cho chứng ngộ số của Tàu mà phải chế tạo từ mới. Do tiếng Anh có hai tiếp vĩ ngữ tức đuôi từ để chỉ bịnh thần kinh là phobia và mania, với phobia nhẹ hơn và mania trầm trọng hơn, nên dân phương Tây quái đản có mấy chứng kỳ kỳ cục cục như có nhiều người tự nhiên khiếp sợ số 4 thì gọi là bị chứng tetraphobia, sợ số 13 thì gọi chứng ấy là triskaidekaphobia, còn sợ hãi số 666 thì gọi là chứng bịnh … hexakosioihexekontahexaphobia, v.v., trong khi chứng “ngộ số” của Tàu thì còn hơn cả bịnh, do dám bày ra cả Ngũ Long để “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông, nên tôi sẽ đặt tên cho “Ngộ Số” là … sinonumerobadaboummania là tổ hợp của Tàu+Số+Nổ+Bịnh tức chứng bịnh luôn nổ về số của Tàu vậy.

Ngộ thay ngộ thay.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế,

http://antichina.blog.com

http://www.emotino.com/bai-viet/19625/ngo-so



Luật Biển Việt Nam

Hoang Huu Phuoc, MIB

Hà Nội, 11 giờ ngày Thứ Năm 21-6-2012

Đúng 10 giờ 30 sáng nay 21-6-2012, 496 đại biểu quốc hội có mặt đã biểu quyết thống nhất cực cao thông qua Luật Biển Việt Nam; và qua tuyên bố của Phó Chủ Tịch Quốc Hội Uông Chu Lưu về kết quả biểu quyết lúc đúng 10g32, Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII Kỳ Họp Thứ Ba đã thông qua Luật Biển Việt Nam, kết thúc chặng đường nhiều năm chuẩn bị công phu, đáp ứng sự mong đợi của cả dân tộc cũng như đòi hỏi của thời đại.

Những dòng chữ đầu tiên của Luật Biển Việt Nam tại Điều 1, Chương 1, ghi rằng:

Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.”

nêu bật tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không những như lời khẳng định với toàn nhân loại chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo đặc biệt này mà còn là sự xác quyết danh dự chủ quyền quốc gia đối với tất cả những phần đất, biển, trời tổ tiên dân tộc Việt Nam đã dày công khai phá, vun đắp, dựng xây, bảo vệ, truyền lưu.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII (2011-2016)
Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội
Nghị sĩ Hội Hữu Nghị Nghị Sĩ Việt Nam – Philippines



Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi có đến ba điều may mắn mà biết chắc chắn là số người cùng có một lúc cả ba điều này chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón, đó là (a) được ba tôi cho đọc truyện kiếm hiệp cùng dã sử Tàu “từ nhỏ” tức lúc 6 tuổi, (b) nhận ra ngay cốt lõi vấn đề “từ nhỏ” ngay lúc đọc các truyện kiếm hiệp cùng dã sử ấy tức vào lúc 7 tuổi, và (c) quyết định quẳng các quyển kiếm hiệp và dã sử đó qua một bên lúc tuổi còn trong giai đoạn “từ nhỏ” ấy tức vào lúc 8 tuổi; nghĩa là nhờ đọc từ nhỏ nên say mê đọc ngấu nghiến khiến hết các pho, nhờ phát hiện vấn đề từ nhỏ nên khôn hơn người lớn ở chỗ quẳng tất từ nhỏ để không phí phạm thời gian cho những điều vô bổ, tai hại khôn lường cho kiến thức mai sau, đặc biệt trong sùng bái lộn bọn người Tàu hoặc tâm trí tẩu hỏa nhập ma. Hôm nay xin sẻ chia cùng các bạn sự thật về võ thuật Tàu và y dược Tàu để các bạn chặn ngăn chuyện cho con cái luyện võ Tàu và dùng thuốc Tàu chữa bệnh vốn cực kỳ nguy hiểm lắm đó đa.

Trước hết, cần lược qua mấy cái tên gọi của những cái gọi là môn phái võ thuật của Tàu, mà từ ngàn xưa đã cho thấy tổ tiên họ đã cực kỳ…tiến bộ đối với vấn đề nhạy cảm về giới tính và nhân quyền nên mới đẻ ra các môn phái dành cho giống đực như Võ Đang, giống cái như Nga My, giới ăn mày ăn xin như Cái Bang, và giới tu hành như Thiếu Lâm giết người như ngóe; ngoài ra còn thêm mấy môn phái có tên trong Tiếu Ngạo Giang Hồ như Hoa Sơn, Thái Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn, và Hành Sơn, với bí kíp Tịch Tà Kiếm Phổ của Hoa Sơn dành cho giống trung tính, khiến các phái hệ võ thuật Tàu đủ loại cho mọi hạng người, thượng cám mà hạ cũng cám. Điều này chỉ nêu bật một điểm quan trọng: tổ tiên Tàu toàn thuộc loại sát cuồng, dù tu hay tục vẫn đeo gươm xách gậy nhởn nhơ, lấy đánh nhau và chém giết làm kế sinh nhai hay tranh giành ngôi võ lâm bá chủ: kẻ cùng đường mạt vận thì mang danh cướp cạn, kẻ thắng thế chiếm gom nhiều kim ngân châu báu lấy thịt người làm nhân bánh bao thì được tiếng anh hùng Lương Sơn Bạc, bọn chuột nhắt thời Tống loạn thì tự phong Ngũ Thử, lũ theo đóm ăn tàn thì có danh Thất Hiệp truyền lưu, khiến rối loạn cương thường, đem điều xạo sự tung hê thành hiệp nghĩa. Do bản sắc dân tộc Tàu là man trá, cha chiếm vợ của con, hoàng tử sát hại phụ vương, anh em tranh đoạt ngôi vua, luân thường đạo lý đảo đảo điên điên, khiến xú khí nồng xông thượng giới buộc trời sinh ra một Khổng Khâu, những mong thánh nhân dẫn dắt nẽo chánh đường ngay, nào hay dân tứ xứ ngày càng thêm loạn dữ. Người biết chữ thì nhiều như sao đêm Trừ Tịch, kẻ gian ngu lại ít như cát sa mạc Tân Cương, nên thầy-trò chỉ là cái sự ghi ghi chép chép tại sách kinh, chứ thực tế nào đâu tồn tại, khiến trò thường xuyên làm phản, còn thầy kia phải lo thủ thế phòng thân, có mười chiêu chỉ dạy có bảy rưỡi tám đường, đem diếm một hai để phòng trò đảo chính. Võ thuật mà như thế thì truyền lưu theo thế kỷ, có còn chi những chưởng lực, nội công; phi thân kia là chuyện xạo thế nhân, thần công lực còn thua môn đấm bốc. Để có đủ học trò nuôi cái miệng, thầy phải chế bao thế võ quái kỳ, khiến học trò ngẩn ngẩn với ngơ ngơ, rồi thầy phán: ấy nhập ma tẩu hỏa. Thế mới biết võ Tàu là xạo sự, giỏi sao lại tan tác trước súng Tây? Bát quốc kia gồm Anh, Mỹ, Đức, Ý, Nga; cùng nước Nga, nước Pháp với Áo-Hung, đánh một trận Võ Đang cùng Thiếu Lâm còn không phi thân trốn kịp, khiến Bắc Kinh bị dày xéo bởi những người không môn phái, chẳng chưởng lực nội công gì sất.

Chuyện tương tự cũng xảy ra trong y thuật, thế nên mới có nhiều thầy toàn tự học mà nên, còn học trò chỉ để vặt sai, đứa có chí cũng phải mày mò hiểu tìm hay chôm chỉa mà thôi. Bọn ngự y thì chỉ chuyên phục dịch chuyện dục dâm dù vua là nữ hay nam, nên thần phương ắt chỉ giỏi lấy dâm dương hoắc trộn ngâm cùng bửa củi.

Nói tóm lại, từ nhỏ người viết bài này đã đặt ra nhiều câu hỏi: bọn hiệp khách hành làm nghề ngỗng chi mà cứ vào quán rượu là ném ra đỉnh vàng nén bạc, hay chỉ toàn bảo kê vũ trường tửu điếm hoặc hộ tống thương đoàn bỏ học hành lang bạc đó đây nào phải gương học hỏi của thanh niên; võ sư chưởng môn diếm bớt bí kíp võ công, thì cách chi còn gì cho hậu thế! Còn chuyện dạy võ cho môn sinh người Việt ắt là chuyện tiếu lâm, không những vì Tàu có còn chi mà dạy, mà còn vì ác tâm tàn diệt giống nòi Việt ta, nên có dạy ắt toàn những chiêu làm nhập ma tẩu hỏa.

Nói tóm thêm lần nữa, người viết bài này sang Bắc Kinh vào thời điểm Tàu chuẩn bị tiếp nhận Hong Kong, có đến thăm một “viện Đông Y”, nơi các “thần y” trẻ măng mắt nhìn láo láo liêng liêng khách nữ, tay bắt mạch, miệng phán lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng. Qua phiên dịch mới biết các “thầy” phán cả đoàn người Việt ông nào cũng bị tim mạch, tiểu đường, mỡ máu ngập tràn, thận suy làm dương liệt; còn các chị ai cũng đều âm hư thận hỏng, khiến da kia ắt sẽ sớm xạm đen, còn xương nọ thế nào cũng loãng lỏng le. Người viết tức cười ngoe nguẩy bỏ ra ngoài, bị một “thầy” chạy ra cự nự, hỏi vì sao đến mà chỉ đứng xem không chịu khám bịnh bốc thuốc thần y, nhìn bộ tịch giống báo tình (…tình báo) từ xứ Việt, rồi gây sự lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng, khiến anh phiên dịch phải hù nói với “thần y” rằng người viết bài này là võ sư chưởng môn nhân của Việt Phước Đạo nên dáng người to cao vậm vỡ 84 ký mà thịt toàn nạc không chút mỡ mòng, không dùng chất tạo nạc, chẳng cần đến dâm dương hoắc mần chi, khiến “thần y” khiếp sợ bị 84 ký đè, e thuốc thánh của Tàu cũng bó tay đành bỏ cuộc. Tôi về nước Việt, bảo nhân viên mình rằng nước Tàu rất đẹp, rằng họ nên nhanh chân lẹ tay qua đó mà thăm, vì sau chừng từ 2 đến 4 năm, nơi ấy sẽ không còn ai đoan chính.

Nay ngẫm lại xứ mình có bao xưởng bịnh, với bảng treo “Phòng Khám Trung Y”. Bạn hãy tin vào thảo dược nước nhà, chứ Tàu họ có còn gì đâu mà tin với tưởng. Thầy của họ có sách chi mà để lại, cỏ cây nguyên liệu họ có còn lành còn tốt gì đâu, có khi lá với rễ cây cũng toàn chế từ cao su cao áp, nên đừng để tiền mất tật mang, đem của cải tặng dâng phường xạo sự.

Đôi dòng tâm huyết viết theo thể tản văn, dưới trời cao vằng vặc ánh trăng sao, để ngâm vịnh nhận chân giá trị: rằng bất cứ gì thuộc y với võ, đừng rớ vô mấy cái của Tàu, giản đơn vì chúng chỉ toàn dóc tổ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế



Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN

Hoang Huu Phuoc, MIB

01-5-2012

Việc thành lập ACFTA – tức Khu Vực Thương Mại Tự Do ASEAN -Trung Quốc – là điều dại dột nhất trong toàn bộ lịch sử tồn tại của Khối ASEAN.

Nhiều năm trước khi học lớp thạc sĩ kinh doanh quốc tế, tôi đã làm vị giáo sư Mỹ ngạc nhiên khi Ông hào hứng giảng về CHINDIA như tương lai xán lạn của một khối kinh tế hùng mạnh sẽ thống trị thế giới vì “Văn Phòng Của Thế Giới” Ấn Độ sẽ liên kết với “Công Xưởng Của Thế Giới” Trung Quốc (China + India = Chindia) hình thành một thực thể thị trường khổng lồ với tổng dân số của hai quốc gia đông dân nhất thế giới này lên đến nhiều tỷ người, thì tôi lại viết bài tiểu luận nộp giáo sư Mỹ để đã phá cái phát kiến điên rồ ấy (đồng thời tóm tắt qua bài “People Say Chindia, I say Vietnam” trên Yahoo!360), cho rằng nó sẽ không bao giờ hình thành, với những viện dẫn không thể hùng biện hơn về các yếu tố lịch sử, chủng tộc, văn hóa-xã hội, và tầm vóc tư duy, v.v., tất cả sẽ khiến cái thực thể mang tên Chindia chỉ có thể xuất hiện 30 năm sau Ngày Tận Thế. Tất nhiên, cho đến nay, Chindia vẫn còn nằm yên trên trang giấy trong những tác phẩm bán chạy của những nhà trí thức tư bản của những học viện kinh tế lừng danh.

Tương tự, khi toàn bộ hệ thống truyền thông đại chúng ở Việt Nam lên cơn sốt với thương hiệu quốc gia “Nhà Bếp Của Thế Giới” từ ngay sau buổi thuyết trình ngày 22/8/2007 của Philip Kotler, với từ Phở được lập đi lập lại tràn ngập trong các bài viết và các buổi phỏng vấn đến độ giở trang báo đã ngữi thấy mùi Phở và ngay cả tivi cũng toát ra mùi Phở, thì tôi khẳng định trên Yahoo!360 rằng đó không bao giờ là nội hàm trong lời nói của Kotler (tôi biết rất rõ nhờ tôi có tham dự buổi thuyết trình của Kotler và nhờ tôi … không dùng headset nghe nội dung dịch thuật tiếng Việt), rằng không bao giờ đó là danh xưng của Việt Nam, và rằng Phở chỉ là món ăn tầm thường trong danh mục ẩm thực quốc tế. Tất nhiên, cho đến nay, “Nhà Bếp Của Thế Giới” chẳng là của Việt Nam, Phở chẳng là kiệt tác ẩm thực của Việt Nam, và cả “Nhà Bếp Của Thế Giới” cùng Phở đã mất tích trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào kể từ đầu năm 2009.

Năm 2010 khi nghe sự hình thành ACFTA, tôi đã tiếc sao mình chẳng thể làm gì để ra tay can ngăn sự ký kết dại dột của ASEAN với Trung Quốc. Khối ASEAN với mười quốc gia gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, và Việt Nam, đã kỳ vọng sai lầm rằng việc ký kết với Trung Quốc sẽ hình thành nên một khối tự do mậu dịch kỳ vĩ lớn hàng thứ ba thế giới, một khu vực tự do thương mại đông dân nhất hành tinh, và cũng là một vùng tự do thương mại hàng đầu của thế giới các quốc gia đang phát triển. Đó là sự vụng tính Lose-Win hơn là một kế sách Win-Lose nghiêm túc, khôn ngoan, nhất là trên thực tế không bao giờ tồn tại bất kỳ tình thế thực chất nào mang tính Win-Win. Đó là việc rước voi về dày mã tổ chứ nào phải mình được cùng ngự cưỡi lưng voi. Tôi đành tắc lưỡi nói với các cộng sự thân tín rằng ACFTA chỉ là một thực thể trên giấy để trang trí cho một bức tường chứ không bao giờ có giá trị trong đời sống thật, và Khối ASEAN hỡi hãy chống mắt mà xem mình Lose ra sao và Trung Quốc Win thế nào! Thiết tưởng không cần luận giải gì thêm vì Phở có giá hơn ACFTA nhiều nên nếu giải thích vì sao ACFTA sẽ thất bại, hóa ra tôi ban cho ACFTA cái diễm phúc được ngang hàng với món Phở hay sao? Và tất nhiên, cho đến nay, ACFTA cũng chẳng là cái thực thể kinh tế kinh khủng kinh hồn kinh nhỉ kinh thiên động địa gì cả, và trang web của nó cũng chỉ cập nhật các thông tin kinh tế bình thường của các nước trong khu vực y hệt như những gì lẽ ra đã xảy ra y hệt như thế mà không cần có cái ACFTA, như bằng chứng rõ nét nhất là  ACFTA bặt vô âm tín trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào ở Việt Nam kể từ đầu năm 2011.

Giá như trước đây tôi chịu khó theo đuổi chương trình tiến sĩ thì ắt những phân tích mang tính tiên đoán về số phận của ACFTA ngay từ 2010 đã có thể là nội dung bài luận án của tôi để các giáo sư Mỹ lại thêm phen sửng sốt, tâm phục khẩu phục, và ngữa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi ôi, cái sở học của Nước Mỹ thân yêu của ta nay đã đổ hết cả về Việt Nam Quốc rồi!”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

a) Philip Kotler / Phở

Hoàng Hữu Phước. 07-8-2008. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam

Hoàng Hữu Phước. 06-8-2008. National Branding: Vietnam, The Campus of the World.    http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world

b) Phê Bình Trình Độ Danh Nhân Nước Ngoài

Hoàng Hữu Phước. 07-6-2009. Vì Sao Tôi Không Quan Tâm Đến Buổi Hội Thảo Của Paul Krugman. http://www.emotino.com/bai-viet/17866/vi-sao-toi-khong-quan-tam-den-buoi-hoi-thao-cua-paul-krugman

Hoàng Hữu Phước. 17-8-2009. Thưa Giáo Sư Tom Cannon, Ông Đã Hoàn Toàn Sai Khi Nói Về Anh Quốc Và Lúc Liên Hệ Đến Việt Nam. http://www.emotino.com/bai-viet/18055/thua-giao-su-tom-cannon-ong-da-hoan-toan-sai

Hoàng Hữu Phước. 09-9-2010. 20 Yếu Điểm Tai Hại Của Balanced Scorecard. http://www.emotino.com/bai-viet/18797/20-yeu-diem-tai-hai-cua-balanced-scorecard

Hoàng Hữu Phước. 13-9-2010. So Sánh Khập Khiễng Của Warren Buffett. http://www.emotino.com/bai-viet/18814/so-sanh-khap-khieng-cua-warren-buffett



Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn

Vịnh Bức Dư Đồ Rách

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu,  1922

Nọ bức dư đồ thử đứng coi,

Sông sông núi núi khéo bia cười.

Biết bao lúc mới công vờn vẽ,

Sao đến bây giờ rách tả tơi!

Ấy trước ông cha mua để lại,

Mà sau con cháu lấy làm chơi!

Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi!

Vịnh Bức Dư Đồ Rách

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 1972

Kia bức dư đồ ta đứng coi,

Chợt nghe đâu đó tiếng vui cười

Dzô dzô thúc nhậu tiêu văn vẻ,  

Khề khà cẩu nhục dáng tả tơi!

Nghĩ trước ông cha công dán lại,

Dè đâu con cháu xé toạc chơi!

Than ôi già bạo chơi hơn trẻ,

Chắc chỉ còn ta muốn đắp bồi!

Vịnh Bức Dư Đồ Vá

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 1975

Đội đá ta nào nhái Bà Oa,

Đất nước chia hai tủi nhục nhà.

Ngoại bang hể hả phường cẩu trệ,

Nội tình hí hửng lũ nô gia.

Độc Lập dinh kia tăng tông cửa,

Tân Sơn sân nọ “Sấm” húc “Già”.

Non sông nay vá liền một mối,

Việt Quốc giờ đây ắt thịnh hòa.

Vịnh Bức Dư Đồ Mới

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2009

Núi núi non non đỉnh dõi trông,

Sông sông nước nước cảnh mênh mông;

Động Đình Hồ ấy quê nòi giống,

Hoàng Sa Đảo nọ đất tổ tông.

Xoạc cẳng băng ngang dòng Dương Tử,

Vói tay thâu lại cõi Hồ Nam.

Việt Quốc địa đồ vươn cao rộng,

Xích Quỷ hoàn nguyên quyết lập công.

Vịnh Bức Dư Đồ Mới Hơn

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2010

Xích Quỷ hoàn nguyên ấy đại công,

Dương Tử sông kia quyết cưỡi rồng,

Cõi Việt Động Đình đem điểm xuyết,

Trời Nam cẩm tú rạng tổ tông.

Trống đồng vỗ mặt ngân dậy núi,

Tiêu Tương phẩy quạt gió rạp thông.

Thu về Việt Quốc giang sơn rộng,

Bờ cõi mênh mông thỏa thỉ bồng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế



Tết 2012: 33 Năm, Một Lời Thề

Hoang Huu Phuoc,MIB

Năm 1985 khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên Âu Mỹ nhân đại lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố:

“Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn luôn sang xâm lược Việt Nam. Nhân dân  Việt Nam là người chống xâm lược và cũng luôn luôn là người chiến thắng. Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang đi theo vết xe đó.

Như mọi người đều biết, chính Trung Quốc cách đây không lâu đã dùng 60 vạn quân xâm lược biên giới phía bắc của Việt Nam, và hiện nay vẫn tiếp tục vi phạm biên giới Việt – Trung, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, gây nên tình hình căng thẳng giữa hai nước, họ cũng đang tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống nhân dân chúng tôi. Ở Cam-pu-chia, nhà cầm quyền Trung Quốc câu kết với Thái-lan dùng bọn diệt chủng Pôn Pốt chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia và đe dọa nền an ninh của Việt Nam. Do đó việc Trung Quốc nói chúng tôi khiêu khích và xâm phạm lãnh thổ của họ chỉ là điều vu khống bỉ ổi. Không bao giờ chúng tôi làm như vậy. Đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn quen thuộc của Trung Quốc ‘vừa ăn cướp vừa la làng’. ”

Trong khi đó, viên đại tướng Văn Tiến Dũng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhận định:

“Bắc Kinh đã leo một nấc thang mới hết sức nguy hiểm. Họ đang tiến hành một dạng chiến tranh lấn chiếm biên giới hòng gặm nhấm từng phần đất đai của chúng tôi, kết hợp với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên cả nước nhằm làm suy yếu để tiến tới thôn tính Việt Nam. Họ còn lớn tiếng đe dọa chúng tôi với giọng lưỡi nước lớn trịch thượng quen thuộc của họ.”

Tất cả cho thấy ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam đã phải đương đầu – hay nói đúng hơn là: tiếp tục con đường của tổ tiên đương đầu – với Trung Quốc, kẻ “luôn luôn” mong muốn xóa sổ Việt Nam, thực thể duy nhất trên thế gian này “luôn luôn” đánh bại Trung Quốc ngay từ đời tiên đời tổ Trung Quốc, và “luôn luôn” ngáng đường bành trướng của Trung Quốc về phương Nam khiến vẫn chưa ngày nào trong 5.000 năm qua đoàn quân cháu con lũ giặc Lương Sơn Bạc tiến được đến Châu Úc bao la và vùng Cực Nam băng giá tiềm tàng tài nguyên phong phú.

Nicolai Stepanovic Kuleisov trong tác phẩm Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc đã nhắc nhở nhân loại rằng để thực hiện những tham vọng địa chính trị của họ, Bắc Kinh tiến hành những hành động xâm lược chống lại Ấn Độ, Việt Nam, và những nước láng giềng khác; họ in những tấm bản đồ địa lý mà trên đó những lãnh thổ của các nước Nam Á và Đông Nam châu Á – như Ấn Độ, Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Lào, và những nước khác – lại được ghi thuộc Trung Quốc. Họ thậm chí ghi rằng vùng đảo đá ngầm gần bờ biển bang Sarawak của Malaysia là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Hoa. Những việc ngang ngược mang tính bá đạo bá quyền nước lớn cho thấy Đông Nam Á đã luôn là đối tượng chiến lược hàng đầu của chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh.

Trước sự tháo chạy của Mỹ khỏi Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO khiến giềng mối của các nước đàn em dưới tên gọi đồng minh Mỹ trong khu vực không còn kết dính vững chắc, Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán đã nhanh tay triển khai các hoạt động quân chính của họ tại Đông Nam Á với kỳ vọng sự phân hóa của các dân tộc trong vùng mà đặc điểm là đa số chưa sẵn sàng thân thiện với Việt Nam Cộng Sản sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến quân mở rộng bờ cõi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nuốt trọn tất cả các quốc gia này. Tuy nhiên,  “việc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất hùng mạnh bước lên vũ đài quốc tế đã tăng thêm khuynh hướng hợp tác tương trợ trong nội bộ” các nước Đông Nam Á của khối mới ASEAN, giúp ngăn chặn được chủ nghĩa bá quyền Đại Hán càng thúc giục “những lãnh tụ của Trung Quốc đã làm tất cả để làm suy yếu vị trí của Việt Nam” tiến đến loại bỏ Việt Nam, trở ngại duy nhất trên con đường bành trướng của Bắc Kinh.

Cũng theo Kuleisov, những tham vọng của Bắc Kinh thoạt đầu được biểu hiện ra vào năm 1974 khi quân Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố những đảo này “mãi mãi thuộc về Trung Quốc”. Những “sự kiện và tư liệu” được sử dụng để biện bạch cho việc chiếm đóng trái phép những hòn đảo ấy đã xuất hiện trên báo chí Trung Quốc, rằng chúng đã thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ XV, rằng chúng đã được những người đi biển Trung Quốc phát hiện ra từ triều đại nhà Hán, đã liên tục được các thương nhân cùng những du khách từ Trung Quốc ghé thăm, và những đồng tiền Trung Quốc do các nhà khảo cổ học phát hiện đã nói lên điều đó, v.v. Trong khi thực chất là nhằm chiếm giữ khu vực dồi dào dầu hỏa chất lượng cực tốt so với dầu hỏa họ khai thác tại vùng dầu hỏa lớn nhất Trung Quốc là Đại Khánh lại có chất lượng thua kém và giá trị thấp hơn nhiều.

Ngày 17-02-1979, biển người hơn nửa triệu quân chính quy tinh nhuệ Trung Quốc cùng hàng ngàn xe tăng và chiến xa cùng pháo binh hạng nặng đã ồ ạt tràn ngập toàn tuyến biên giới trải dài hơn 1.200 km của Việt Nam, man rợ tàn sát, hãm hiếp, cướp bóc, tàn phá, nhằm nhanh chóng thôn tính Việt Nam, hoặc ít ra là làm suy kiệt tiềm năng quân sự và suy tàn nền kinh tế èo uột của Việt Nam, phá hoại sự ổn định nội bộ của đất nước này, đe dọa và trấn áp nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần, bắt Việt Nam phải phục tùng thiên triều Trung Quốc. Song, cuộc chiến tranh 16 ngày ở Việt Nam đã không đưa lại cho Trung Quốc một kết quả nào cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Các chiến sĩ biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân địa phương Việt Nam đã phá tan không những toàn bộ chiến dịch xâm lược của Trung Quốc mà còn cả cái dự định lăm le sờ mó các nước khác ở Đông Nam Á. Tờ Wall Street Journal của Mỹ số tháng 3-1979 trong bài xã luận “Ai Dạy Cho Ai Một Bài Học?” đã viết một cách châm biếm rằng: “Trung Quốc ra khỏi cuộc chiến tranh này với sự ô danh tồi tệ hơn cùng cái mũi bị giập.” Hơn nửa triệu quân chính quy Trung Quốc đã bị Việt Nam đánh cho tan tác chỉ trong hai tuần, một chiến tích vẻ vang tuy chưa phá được kỷ lục của Chiến Dịch Hồ Chí Minh (chỉ trong 5 ngày đã đánh tan nửa triệu quân của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt).

Tháng Tết 2012 là thời khắc người dân Việt Nam chân chính nhớ đến tháng Tết 1979 để nghe ngân vang lời thề phục hận. Đã 33 năm kể từ ngày 17-02-1979 khi bọn giặc Tàu tràn qua biên giới Việt Nam mà sự man rợ không chỉ là tàn diệt người dân Việt mà còn qua sự giật mìn phá sập các di tích lịch sử như Hang Pắc Pó nhằm xóa sạch bất kỳ các vết tích nào mang tính tự hào dân tộc Việt Nam, nhất là khi di tích ấy lại liên quan đến Hồ Chí Minh, con người gầy gò đã khôn ngoan lèo lái cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho đất nước mà vẫn không lệ thuộc vào bọn bá quyền nước lớn.

Tháng Tết 2012 của Việt Nam là thời điểm thích hợp để đọc lại bài viết vào tháng Tết 2009 của Huy Đức trên Sàigòn Tiếp Thị:

***

Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

 

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.

“Những đôi mắt”

Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.

Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.

“Cuộc Chiến 16 Ngày”

Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.

Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.

Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.

Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Lặng Lẽ Hoa Đào

Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.

Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.

Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.

Huy Đức

***

Tháng Tết 2012 của Việt Nam lại phải chứng kiến việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.

Kết hợp cách dùng từ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thì Trung Quốc “luôn luôn gặm nhấm” các vùng lãnh thổ của Việt Nam.

Kết hợp cách dùng từ của hiện nay và của Nicolai Stepanovic Kuleisov thì cái lưỡi bò của Trung Quốc rất dài vì không những liếm láp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn thè ra đến tận các dãi san hô đá ngầm ven biển Bang Sarawak của Malaysia trên đảo Borneo.

Tháng Tết 1979. Tháng Tết 2012. Thời gian 33 năm không ngừng gia tăng cơn thịnh nộ của lời thề phục hận!

Trung Quốc đã đi vào vết xe đổ của Mỹ:

Và Trung Quốc rất có thể đang lầm tưởng rằng một cuộc xâm chiếm vùng Biển Đông của Việt Nam hầu tránh né đương đầu trực diện trên đất Việt, trên không Việt, trên sông Việt, trên núi Việt, sẽ an toàn hơn và bảo đảm hơn cho một thắng lợi quân sự, mà không nhận ra một sự thật rằng chúng sẽ không thể nào chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Chỉ 5 năm sau khi cướp đoạt Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa với sự hợp tác tích cực làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự hợp tác tích cực tuyên bố ủng hộ của Mỹ.

Đã 33 năm từ cuộc xâm lược ấy của Trung Quốc trên đất liền Việt Nam.

33 năm còn nguyên đó lời thề phục hận.

Lời thề ấy độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử nhân loại, vì đó là lời thề phục hận của người luôn luôn chiến thắng!

Những bài thơ mới với hình ảnh kèm theo sẽ tiếp tục được viết nên, có thể với cảnh lính Tàu bị trói thúc ké ngồi chồm hổm thu lu bên trong lưới cá trên thúng mủng do một nữ ngư dân áp giải vào bờ trong vùng biển huyện đảo Hoàng Sa vậy.

                            Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn

                            Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

1) Vì Sao Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Việt Nam. Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1986. Trang 11-12

2) Nicolai Stepanovic Kuleisov. Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc. Người dịch: Hùng Thắng. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982. Trang 56-70

3) Hoàng Hữu Phước. 2009. Huy Đức: Biên Giới Tháng Hai. http://www.emotino.com/bai-viet/17459/mot-bai-bao-dac-sac-cua-saigon-tiep-thi

4) Hoàng Hữu Phước. http://antichina.blog.com



Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino

Hoang Huu Phuoc, MIB

1) Hỏi: Thầy ơi. Em nhận được mấy link vào cái gọi là “Trung Quốc sẽ thôn tính Việt Nam trong vòng 31 ngày”.  Sao Thầy không viết bài nào phản ứng trên Emotino hết vậy, có phải vì đang có chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nên Thầy ngưng viết? Email của một học trò độc giả Emotino ở Santa Fe, Hoa Kỳ. 15-10-2011

Đáp:

Câu hỏi thật là nhạy cảm đấy em ạ. Nhưng Thầy vẫn trả lời vì biết là nếu vắng Thầy thì chợ vẫn đông, tức là Thầy không trả lời thì vừa làm em ngạc nhiên nghĩ rằng Thầy thay đổi tính nết hết hùng dũng hiên ngang phong độ ắt tại bị vì bởi nay … ở tuổi hồi xuân chỉ biết lo ăn sầu riêng thay thế Viagra, vừa chỉ tổ giúp mấy anh chống Cộng ở bên bển có cơ hội giết thì giờ bằng cách viết linh tinh chống Cộng om sòm để đừng quên tiếng Việt trong lúc vẫn chưa nắm vững tiếng Anh trên đất nước Mỹ không có tự do ngôn luận, dấu diếm không dám nói gì trên Yahoo! News về Occupy Wall dân Mỹ chống chủ nghĩa tư bản, chỉ dám sủa nhặng lên vở hài kịch về kế hoạch Iran ám sát Đại sứ Saudi Arabia.

Em ạ, việc Ông Nguyễn Phú Trọng thăm China là việc đối ngoại bình thường, và các văn bản ký kết là những văn bản ở tầm vóc vĩ mô mang tính định hướng chiến lược bình thường cho hai quốc gia có quan hệ bình thường, còn những việc thường ngày ở huyện thì cứ diễn ra bình thường. Thầy sẽ tăng cường “giám sát” tích cực mạnh mẽ hơn để tránh việc sẽ có chức sắc địa phương do không hiểu, cứ thấy Tổng bí thư ký kết văn bản hữu nghị với Trung Quốc là tự động “hữu nghị” tha cho mấy công ty vô trách nhiệm, vô năng lực, vô tư cách, và vô…vốn liếng của Trung Quốc đang gây hại cho Việt Nam tại các dự án trọng điểm quốc gia, hay tự động “hữu nghị” tha cho mấy chục ngàn lao động phổ thông Trung Quốc chưa học phổ thông chẳng biết gì ngoài nói tiếng Phổ Thông đang lao động phổ thông không giấy phép phổ thông tại nhiều công trình rất phổ thông ở các tỉnh Việt Nam. Thế nên, mọi việc vẫn như vậy: kế sách chiến lược là việc quốc gia đại sự của lãnh đạo Đảng và Chính phủ, còn luật pháp Việt Nam là vấn đề thượng tôn của toàn dân bao gồm song không chỉ giới hạn bởi người dân, công chức, và quan chức. Việc đăng mấy bài vớ vẩn chống Việt Nam thì do bọn thất học và hèn hạ người Trung Quốc viết nên Thầy không quan tâm. Tại sao gọi chúng thất học và hèn hạ? Đơn giản vì Thầy luôn nêu tên Thầy thật đầy đủ, nêu học vị thật đầy đủ, và ghi các chi tiết liên hệ thật đầy đủ trên các phương tiện chính quy, nên tất nhiên xem thường, khinh miệt bọn thất học núp sau nickname viết cho ruồi nhặng bâu. Nhưng thiết nghĩ Thầy nên nói như sau để các em yên tâm rằng bọn thất học hèn hạ chống Việt Nam bằng mồm thì muôn đời vô dụng. Giả như Thầy đột nhiên xem bọn thất học hèn hạ ấy là …người và đột nhiên muốn hạ mình (do có tính khiêm tốn) mắng chúng thì Thầy sẽ có các ý như sau:

Thầy luôn khuyên các em bằng câu nói tuyệt vời của Lenin: Phải học, phải học thêm, học thêm mãi. Bọn nhãi ranh Tàu viết ba cái vớ vẩn ấy là bọn lưỡi bò thất học, dốt nát, ngu si, đần độn, nên những gì chúng vẽ ra chẳng khác cái lưỡi bò khiến Thầy nhớ đến tựa đề một tác phẩm lừng danh của Jean-Paul Sartre (tức quyển La Nausée tứcBuồn Nôn). Nghe em nói, Thầy chả biết thực hư, nhưng cũng không tò mò phí thời giờ kiếm tìm trên mạng để đọc làm gì. Tuy nhiên, chỉ nghe nội dung tựa đề của chúng là Thầy đã có ngay kế sách mang tên Operation 365 nhưng không phải là 365 ngày vì như thế là quá nhiều đối với 31 ngày của chúng. Chiến Dịch 365 là kế hoạch quân sự làm cỏ Trung Quốc trong vòng 3 ngày, cắt Trung Quốc thành 6 phần lãnh thổ chia cho 5 nước của liên minh quân sự Ngũ Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh. Thầy đủ khôn ngoan hơn bọn Tàu Bò để không viết ra Operation 365 tiết lộ hết kế sách cho bọn chúng. Nói tóm lại, em đừng lo lắng, đừng nổi xung, đừng tức giận, vì phụ nữ như em mà tức giận ắt tốn tiền mua kem trị mụn; với lại giống bò cho ta nhiều thứ lắm, từ sữa để uống, thịt để ăn, da để làm giày, và … khô bò cùng thịt bò viên ăn hủ tíu ngon lắm em ạ, duy có lưỡi bò thì Thầy chưa biết dùng làm món gì, có lẽ dành chế biến làm thức ăn cho chó vậy. Thầy giáo Sử k‎ý Võ Nguyên Giáp đã làm việc kinh thiên động địa đánh tan nát các tướng lĩnh ưu tú của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dìm họ xuống bùn nhơ khiến Pháp mất sạch sành sanh các thuộc địa còn Mỹ bị lờn mặt trên toàn thế giới và thất bại triền miên triền miếc trên mọi lĩnh vực cho đến tận ngày nay; lẽ nào thầy giáo Anh văn Hoàng Hữu Phước của các em lại không viết nổi một kế hoạch đơn giản xé toang tấm dư đồ Trung Quốc Bò Trung Quốc Biếc hay sao. Thầy chỉ lo Biển Đông ô nhiễm nặng vì mới đánh Việt Nam ngày thứ ba trong chuỗi 31 ngày của chúng là quốc gia của chúng đã hết tồn tại rồi, nên chúng phải đành thây trôi chật biển, xác chất chồng nặng dìm hải đảo chìm xuống dưới mặt nước biển (do không ai ở ASEAN cho quái thú lưỡi bò được tỵ nạn chính trị cả) khiến ngành xuất khẩu hải sản của ta tiêu điều suốt nhiều năm nhiều tháng.

Thi sĩ Mộng Tích Trần Duy Uyên ắt đã có tài tiên tri thấu thị, biết thế nào cũng có ngày con cháu Việt Nam nộ khí xung thiên vì bọn Tàu, nên có để lại bài thơ nhằm trấn an, giảm stress, tạo không khí thư giản rằng:

          Nào có ra chi lũ hát tuồng

          Cũng hò cũng hét cũng y uông

Và Thầy cứ theo vần điệu của Trần thi sĩ mà … update tức cập nhật hóa thành bài thơ Đường Luật thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng như sau, nhờ em giúp phổ biến bên ấy nhé, cứ lấy tên Thầy hay bút hiệu ngày xưa của Thầy là An Thiện Bảo Giang hay Hải Thoại Lăng Tần hoặc … Tannhauser Beowulf Thor đều được:

          Nào có ra chi lũ Tàu cuồng

          Lưỡi bò lè liếm c… chim muông (1)

          Võ công bá láp toàn pháo đại

          Hùng anh một đám đứng cởi truồng (2

          Giẻ rách Thi Lang khoe cẩm tú (3)

          Đắp che mình thú cột trong chuồng

          Hóa ra ai cũng nguồn sinh vật

          Việt: rồng;  còn Trung: kiếp thuồng luông (4)

Ghi chú:

(1) Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nổi tiếng có đầy phân chim làm nguồn phân bón cực tốt (người Tàu có dùng phân làm thuốc trị bá bịnh cho Vua Tàu), nên lưỡi bò liếm đảo ắt phải nuốt thứ đó trước tiên. Đúng là hậu duệ trung thành của Câu Tiển. Ô hô ô hô.

(2) Vất khố tồng ngồng khoe thứ dơ bẩn hôi thối kinh tởm y thứ của mấy con bò nghìn năm không tắm rửa kỳ cọ, đã vậy còn đong đưa như cọng bún ỉu xìu trước gió Lào, làm nữ binh của Bà Triệu ngạt thở phải nhảy xuống sông tuẫn tiết bảo vệ đôi mắt ngọc trinh nguyên. Giặc Tàu dơ bẩn thay dơ bẩn thay.

(3) Hàng không mẫu hạm Thi Lang như miếng giẻ rách bươm mà khoe là gấm vóc. Đáng thương thay đáng thương thay.

(4) Tức là …thuồng luồng (viết thành…thuồng luông cho…hợp với cách gieo vận của bài thơ tếu) là loại quái thú mình đầy gai và vẩy lấp lánh lân tinh, mõm ngoác rộng đỏ lòm xông mùi hôi thối nồng nặc sống chui nhủi trong hang chốn đầm lầy; còn rồng bay nhảy ở trên mây. Tuy mình mẩy dài ngoằng to lớn giống nhau mà lại khác xa đẳng cấp một trời một vực vậy. Lành thay lành thay.

Vậy em đã rõ là Thầy nào có xem ra gì lũ cũng hò cũng hét cũng i-uông.

Chúc em vượt qua khổ nạn làm công dân Mỹ nhé, và hãy khôn ngoan để người Mỹ gốc Mỹ chống chủ nghĩa tư bản với phong trào Occupy Wall đang lan trùm nước Mỹ, đừng có dại dột tham gia biểu tình kẻo bị chụp mũ theo đấu tranh giai cấp Mác-Lê nin thì khổ vì em thuộc diên “mới qua”, ắt không được “cộng đồng thuyền nhân” cho phép…lên thuyền. Có lẽ ngày nào đó sẽ có nước Mỹ Cộng Sản đối đầu với Trung Quốc Cộng Sản, và lúc đó người Việt sẽ đỡ nhức đầu vì blogs Trung Quốc sẽ xuất hiện bài viết “Trung Quốc sẽ thôn tính Hoa Kỳ trong vòng 28 ngày” (của tháng Hai để tiết kiệm được 3 ngày vàng ngọc).

Thư bất tận ngôn,

Thân mến.

2) Hỏi: Anh có ghét người Hoa không?  Một cử tri độc giả Emotino ở Quận 5, Tp HCM. 16-10-2011

Đáp:

Tất cả những người Hoa ưu tú đều đã bỏ Trung Quốc ra đi sạch sành sanh, trong đó có một số đông đặc biệt là họ Mạc Cửu tìm sang Việt Nam lánh nạn và lập nghiệp tại Hà Tiên, trở thành những công dân ưu tú thần phục vương triều hoàng tộc nước Việt với Tao Đàn Chiêu Anh Các lừng danh của Mạc Thiên Tứ và Trần Trí Khải gồm 25 nhà thơ người Hoa nhập tịch và 6 danh sĩ Việt bản xứ, phát triển kinh tế toàn vùng, đem sự trù phú và an ninh trật tự, văn hóa cao của nhân-nghĩa-lễ-trí-tín đến khắp miền sông nước, thượng tôn luật pháp, một lòng trung thành son sắt với hoàng gia nước Việt, bảo vệ bờ cõi đất phương Nam trước các đoàn quân xâm lược từ phía Tây Nam và Nam Tây Nam, v.v., khiến bao bậc hào kiệt tài đức vẹn toàn triều Nhà Thanh nghe tiếng đất lành thiên đường hạ giới môi trường tuyệt diệu của tự do, cùng nhau bỏ nước Tàu ra đi vượt sóng dữ trùng dương ác hiểm để tề tựu nơi trấn Hà Tiên xin nguyện làm con dân nước Việt chung sống với cộng đồng người Việt bản địa đôn hậu, thuần phác, rộng lượng, khoái ăn nhậu và cũng lắm anh tài. Như vậy những người Việt gốc Hoa là những công dân Việt Nam, không dính dáng gì đến Trung Quốc, nên những phản pháo trước các hành vi côn đồ đốn mạt của Trung Quốc là đáp ứng đúng tâm tư tình cảm của người dân Việt – trong đó có cộng đồng ưu tú người Việt gốc Hoa, những người chắc chắn nguyền rủa cái lưỡi bò thậm tệ bằng hai thứ tiếng Việt và Hoa.

Xin nói thêm là tôi có một Ông Ngoại người Việt gốc Hoa và dù Ông là dưỡng phụ của mẹ chúng tôi, Ông được toàn gia đình chúng tôi kính yêu, tự hào và xây mộ phần của Ông (đến độ chúng tôi quên mất còn có mộ Ông Ngoại ruột người Việt gốc Việt tại Cà Mau) cạnh mộ Bà Ngoại ở Trà Ôn, Vĩnh Long, để toàn đại gia đình hàng năm đi viếng ít nhất ba lần. Ngoài ra, Ba tôi lúc sinh tiền trước 1975 ở Sài Gòn chỉ thích “mần ăn” với người Việt gốc Hoa, còn trong số những bạn gái thân thương của tôi thời trung học và đại học có bốn cô người Việt gốc Hoa xinh đẹp nết na giỏi kinh doanh mà những trang tình sử với họ thuộc những trang đẹp nhất.

Tôi không ghét người dân Trung Quốc nào còn biết nói tiếng người. Tôi chỉ ghét bỏ và khinh miệt hai hạng ngu dân lúc nào mồm cũng nhểu nước dãi hám hôi ghiếc gớm là (a) bọn bò điên Trung Quốc lè lưỡi liếm láp Biển Đông và (b) lũ chó dại Trung Quốc sủa ăng ẳng hù dọa nước Nam ta.

Bức thư ngắn không tiện trãi hết tấm lòng,

Trân trọng.

Các bài tham khảo thêm:

1) Hoàng Hữu Phước. 02/9/2011. Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán Việt.  http://www.emotino.com/bai-viet/19263/trung-quoc-va-chung-ta-su-can-thiet-phai-viet-lai-ngon-tu-hanviet

2) Hoàng Hữu Phước. 08-9-2011. Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê.  http://www.emotino.com/bai-viet/19274/trung-quoc-va-chung-ta-nhung-chuan-bi-nhieu-khe

3) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh

4) Hoàng Hữu Phước. 03-7-2011. Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo

5) Hoàng Hữu Phước. 01-7-2011. Chữ U Với Gạch Chéo.  http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo

6) Hoàng Hữu Phước. 26/6/2011. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai

7) Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta

8) Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

9) Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Blog cá nhân: http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com

Web cơ quan: www.myabiz.biz



Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê

Hoang Huu Phuoc, MIB

Có một định nghĩa mang tính chân lý từ muôn đời nay mà từ kẻ thất phu đến bậc thức giả hàn lâm, từ bậc hiền nhân quân tử đến kẻ tham quan ô lại, từ nhà buôn chân chính đến doanh nhân làm giàu bằng cách ác nhân thất đức tàn phá môi sinh, từ bậc đạo đức tu hành chánh đạo đến phường hổ mang lưu manh khoác áo cà sa hay áo chùng thâm, đều biết rõ mười mươi rằng Việt Nam là mồ chôn tất cả các đoàn quân xâm lược bất kể chúng đến từ đâu (ngoại trừ … aliens tức sinh vật ngoài hành tinh vốn chỉ bị tiêu diệt duy bởi các vũ khí thần thông Mỹ … made-in-Hollywood bất kể chúng đến từ thiên hà nào). Đất Việt đã luôn là mồ chôn bộ binh, kỵ binh, tượng binh, thiết giáp binh, pháo binh giặc xâm lược. Trời Việt đã luôn là mồ chôn không quân giặc xâm lược. Sông Việt đã luôn là mồ chôn thủy binh giặc xâm lược (chưa kể… Rừng Việt đã luôn là mồ chôn biệt kích giặc xâm lược và Hang Việt – mà điển hình là Hang Pắc Pó –  đã luôn là mồ chôn … đê tiện quân giặc xâm lược). Và đương nhiên đến lượt Biển Việt sẽ nối gót để luôn là mồ chôn hải quân giặc xâm lược.

Đã là chân lý‎ thì đương nhiên đúng, phải đúng, đúng một-cách-biết-làm-thế-nào-được, vì ngay cả Albert Einstein cũng phải sử dụng số học 2+2=4  trong các tính toán kinh thiên động địa không dính dáng đến số học của Ông. Mà đã đương nhiên đúng thì Biển Đông sẽ là mồ chôn của hàng không mẫu hạm của Trung Quốc và tất cả các chiến hạm cùng tàu ngầm của Trung Quốc, bất kể do chúng tự động chìm vì lớp sơn mới không bít  được các lổ mọt rỉ sét mà độ mặn căm thù của Biển Đông tàn phá nhanh chóng gọn gàng thứ kim loại biến thái với hàng không mẫu hạm của Trung Quốc là điển hình, bất kể do tổ tiên Việt Nam sau khi thấy lời răn dạy phải luôn dĩ hòa vi qu‎ý tránh voi đâu hổ mặt nào được con cháu áp dụng nhuần nhuyễn hơn 4000 năm vẫn không phát huy tác dụng với con cháu bọn cướp cạn Lương Sơn Bạc nên nóng mặt hung hăng hùng hổ vất bỏ dáng nhu mì từ trời cao giáng sấm sét bão tố đánh chìm chiến hạm giặc Tàu khiến thây nổi đầy mặt biển vướng chân vịt làm hỏng vô số tàu buôn, bất kể do bị  các cao thủ võ lâm Hồi Giáo các nước trong khu vực ASEAN đánh chìm sau khi thọ giáo các tuyệt chiêu kinh nghiệm từ hảo hán người Sudan của lực lượng al-Qaeda dưới quyền Osama Bin Laden đã từng làm chiến hạm USS Cole của Hải Quân Hoa Kỳ thủng một lổ bự chà bá khi neo đậu tại Cảng Yemeni thành phố Aden nước Yemen lúc 11 giờ 18 phút 14 giây sáng ngày 10 tháng 12 năm 2000 gây thương vong cho 56 binh sĩ Mỹ chỉ với 250kg thuốc nổ, hay bất kể do chính các chiến sĩ hải quân tinh nhuệ của Trung Quốc thao tác sai khi thiết bị có chữ Nga và chữ Anh hay chữ Pháp được dán chữ Tàu đè lên nhưng bị sút rớt do keo dỏm made-in-China làm nhấn nút lộn phá tanh banh mẫu hạm còn tàu ngầm bị mỹ nhân ngư gốc Việt dụ lũi vô kẹt cứng như  Mạnh Hoạch bị dính chấu giữa hai mỏm đá đáy biển sâu do tưởng bở hai bắp đùi nõn nà người ngọc, v.v. và v.v.

Mà các sự cố trên xảy ra – cách chi mà không xảy ra cơ chứ  – thì cứ tưởng tượng tàu Trung Quốc đổ xô đến Biển Đông cứu nạn, tàu Mỹ đổ xô đến vớt khí tài quân sự cùng máy bay tàng hình Tàu để xem kỹ thuật tiến bộ đến đâu, tàu Nga đổ xô đến nghiên cứu xác hàng không mẫu hạm để rút kinh nghiệm chế vỏ tàu chống muối Biển Đông, tàu các nước ASEAN mạnh ai đổ xô đến vì những mục đích khác nhau, còn ghe thuyền thúng mủng Việt Nam đổ xô ra vì vẫn mang nặng khí tiết đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo rồi vì nghĩa tử là nghĩa tận mà bắt chước tiền nhân vớt xác quân thù lên bờ lập đền thờ cúng tế ngàn năm không dứt khói hương, thật là tán loạn tự do thì còn gì là uy quyền quốc gia! Thế nên, thay vì đợi nước đến đầu gối mới nhảy, Việt Nam nên có sẵn các quy định mang tính luật pháp, chẳng hạn rằng bất kỳ tàu nào xâm lấn vùng lãnh hải của Việt Nam mà gặp nạn chìm – bất kể do trời đánh hay người đánh – thì thuộc quyền sở hữu của Việt Nam như pháo đài bay B-52 và oanh tạc cơ F của Mỹ bị rơi ở Miền Bắc Việt Nam trở thành tài sản của Việt Nam muốn trưng bảo tàng hay xẻ thịt làm lược chải đầu hoặc bán ve chai thì cứ tự tiện, rằng các nước có liên quan hay không có liên quan muốn vào nghiên cứu chụp hình phải đóng phí cho Việt Nam và trả tiền cho Việt Nam nếu muốn trục vớt mua lại xác tàu, rằng mọi dịch vụ phải hợp đồng sử dụng lao động Việt Nam, rằng các chính quyền các địa phương ven biển không cho dân lập đền thờ như xưa kia tổ tiên Việt đã thờ mấy tướng Tàu xâm lược nước ta bị chém bay đầu vì địa ốc ngày nay không còn dư dả gì nhiều để phí phạm vô bổ như thế do đã có quá nhiều resort ven bờ biển, v.v. Đồng thời, Việt Nam nên phát triển lực lượng cứu hộ biển, lực lượng khắc phục sự cố tràn dầu mặt biển do tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng khắc phục hậu quả phóng xạ do vũ khí rò rỉ dưới đáy biển từ tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng thu giữ khí tài quân sự từ đáy biển, lực lượng cảnh sát giao thông biển để giữ trật tự biển sau khi hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm làm vô số tàu buôn và tàu container bị vướng chân vịt không cục cựa gì được như đã nêu trên, lực lượng tuyên truyền thuyết phục các nước khách hàng đừng sợ cá biển Việt Nam xuất khẩu nhiểm độc tàu Tàu, và lực lượng đoàn tàu du lịch hạng sang để làm dịch vụ đưa đón hàng vạn người Trung Quốc hàng năm đến Biển Đông khu vực Trường Sa thả vòng hoa và thức ăn cúng tế hồn tử sĩ Tàu.

Thêm vào đó, còn phải tính đến trường hợp hàng không mẫu hạm Trung Quốc không bị trời đánh hay người đánh chìm nhưng lại giương cờ trắng đầu hàng Việt Nam, xin tỵ nạn chính trị tại Việt Nam, do rất nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cầu mong Trung Quốc xua hải quân đánh Việt Nam để ngay khi hải quân Trung Quốc tiến vào Biển Đông họ sẽ đồng loạt nổi loạn khắp nơi tấn công Bắc Kinh, tiêu diệt lực lượng quân đội ít oi còn lại để xé toang nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành ít nhất năm quốc gia mới, khiến đoàn quân viễn chinh Tàu xâm lược không chốn dung thân trên chính chiếc lưỡi bò. Vì vậy, Việt Nam phải quy định ra sao đối với tình huống tỵ nạn chính trị chưa có tiền lệ này, có chấp nhận cưu mang cho nhập quốc tịch những ngàn người Mác-xít Mao-ít bất hạnh đã từng có vinh hạnh duy nhất trong đời là làm cháu chắt chít chụt chịt của Ông Cố Tổ Trọng Thủy xưa kia từng được nằm chung giường với Bà Mỵ Châu chăng, hay học cách tiền nhân ban áo quần lành lặn và lương khô (còn trong hạn sử dụng) cho đoàn xe Hyundai (50 chỗ có máy lạnh) đưa đến tận biên giới Việt-Trung trao trả họ cho những chính phủ cầm quyền mới ở bển để bên ấy long trọng đón về tùng xẻo lấy thịt nấu bánh bao như bọn mọi Thủy Hử xưa kia, v.v. và v.v.

Vô số những vấn đề mà nếu áp dụng Xác Xuất Học sẽ thấy không phải không có khả năng xảy ra, khiến Việt Nam không thể không quan tâm đến, và không thể không sớm đề ra đầy đủ.

Chỉ vì cái đại ngu và đại điên của đại gia Trung Quốc mà Việt Nam ta phải tốn tiền lo tổ chức đủ thứ, e rằng GDP nước nhà lại bị tác động khó nhích lên cho sớm xứng mặt siêu cường trong thiên hạ, do các khoản thu từ dịch vụ du lịch Biển Đông thời hậu mẫu hạm khó đủ bù chi.

Các bài viết khác về Trung Quốc:

1) Hoàng Hữu Phước. 02-9-2011. Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Đổi Ngôn Từ Hán Việt. http://www.emotino.com/bai-viet/19263/trung-quoc-va-chung-ta-su-can-thiet-phai-viet-lai-ngon-tu-hanviet

2) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh

3) Hoàng Hữu Phước. 03-7-2011. Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo

4) Hoàng Hữu Phước. 01-7-2011. Chữ U Với Gạch Chéo.  http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo

5) Hoàng Hữu Phước. 26/6/2011. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai

6) Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta

7) Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

8) Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Email: hhphuoc@yahoo.com

Tin nhắn SMS: 0988898399

Blog cá nhân: http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com

Web công ty: www.myabiz.biz



Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Hoang Huu Phuoc, MIB

Trong kho tàng Tiếng Việt ta, từ Hán-Việt dược dùng đáp ứng những nhu cầu sử dụng trang trọng, quý phái, hoặc tế nhị, v.v, thí dụ: hồng quân (thay vì … quân đỏ), tổng thống (thay vì…nắm giữ tất tần tật), thủy điện (thay vì điện nước), quốc lộ (thay vì đường chính chạy suốt đất nước), v.v., và chỉ bị gát qua một bên nếu ý nghĩa dễ gây nhầm lẫn (Hội Chữ Thập Đỏ, thay cho Hội Hồng Thập Tự vốn dễ nhập nhằng với Thập Tự trong Thập Tự Chinh có liên quan đến đạo Chúa).

Từ xưa, hễ liên quan đến vua thì người ta dùng chữ “long” với ý nghĩa “rồng”, linh vật tối thượng, tiêu biểu cho quyền uy tột đỉnh của muôn loài, từ đó có long nhan (mặt vua), long xa (xe của vua), long ân (ơn vua ban tặng), long trượng (gậy vua ban tặng), long thể (mình đầu tay chân của vua), long tu (râu vua), long bào (áo vua), long sàng (giường vua),v.v. Tất nhiên, long nhãn không phải là … mắt vua, và long đong không phải là bàn cân vua, long ốc không phải là … hang ổ của vua, long não không phải là…óc vua.

Thế nhưng, chủ nhân của Tiếng Hán là Trung Quốc đã có công khai khái niệm mới, theo đó mới quý hơn rồng, nhất là sau khi tiếp thu văn hóa Phương Tây, biết họ xem rồng là quái vật thường bị Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần Michael đâm trường thương giết chết, còn phim ảnh Holywood tạo nên rồng nhiều đầu, hễ đứt đầu nào thì nơi ấy mọc ra hai đầu khác, trông kinh khiếp quá, nên mới chủ trương thay đổi ngôn từ, ra vẻ ta thuộc dân tộc thuần nông luôn xem trọng con nên mới có vụ đường lưỡi bò lấn chiếm Biển Đông.

Người Việt ta thường hay lịch sự, biết tôn trọng người, cái gì không phải của ta thì chả thèm tranh cải, học câu vật phi nghĩa bất thủ (đồ bậy bạ thì quyết không giữ lấy), nên ắt cũng nên thay đổi ngôn từ Hán-Việt của ta để từ nay khi diễn tuồng tích Tàu thì xưng hô như sau mới hợp thời đại mới của Trung Quốc, kẽo họ chê bai chúng ta quá kém tiếng Tàu:

Ngưu nhan: tức mặt bò (Tiếng Tàu gọi Ngưu chung cho trâu ), nghĩa là mặt vua Tàu

Ngưu thể: đầu mình chân tay bò, nghĩa là cả người vua Tàu

Ngưu xa: xe bò, nghĩa là xe chở vua Tàu

Ngưu trượng: cây roi bò, chắc để vua Tàu dùng khi cưỡi bò

Ngưu bào: áo bò (làm bằng da bò, không phải áo vải jean) của vua Tàu

Ngưu tu: râu của bò, tức râu vua Tàu

Ngưu sàng: giường của bò tức của vua Tàu

Ngưu ân: ơn do bò tức vua Tàu ban tặng

từ đó, ta sẽ được nghe các câu nói thật chuẩn, thí dụ như khi một tì nữ được vua Tàu hôn hít sẽ nói: “Kính tạ Ngưu Ân đã cho tiện nữ nhìn thấy Ngưu Nhan, được nằm kề Ngưu Thể, trên Ngưu Sàng đầy nhóc Ngưu Bào, và được biết vị mùi Ngưu…Lưỡi.”

Các bài viết khác về Trung Quốc:

1) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh

2) Hoàng Hữu Phước. 03-7-2011. Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo

3) Hoàng Hữu Phước. 01-7-2011. Chữ U Với Gạch Chéo.  http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo

4) Hoàng Hữu Phước. 26/6/2011. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai

5) Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta

6) Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

7) Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

hhphuoc@yahoo.com



Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

Hoang Huu Phuoc, MIB

Có lẽ Sấm Trạng Trình là tác phẩm duy nhất thường được

- nhiều người Việt nhắc đến như một tiêu biểu đặc trưng Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong khi lẽ ra Cảm Hứng Thi, Khuê Tình, Hạ Cảnh, , và Ngụ Hứng mới là những kiệt tác đáng được đọc hơn; và

- nhiều Việt Kiều chống Cộng lạm dụng một cách mông muội để giải thích hùng hồn này nọ rồi chờ đợi mõi mòn đến bạc đầu từ kỷ này đến kỷ khác (mỗi 12 năm) sự sụp đổ của Cộng sản Việt Nam dựa trên đoạn sấm:  

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình …

thậm chí có kẻ còn sử dụng chiêu thức vừa ăn cướp vừa la làng để tự nhận mình là “anh hùng” có ngày được Phật Vương hô biến tiêu diệt Ma Vương (tức Cộng Sản) để “anh hùng” quay về Việt Nam vẻ vang vào cái năm Thân Dậu ấy, cứ như thể buôn lậu ma túy đã đời với trò lính kiểng lính ma rồi vứt bỏ vũ khí chạy tán loạn khỏi Việt Nam nhưng vì là “Cộng Hòa” nên đương nhiên tốt đẹp và Sấm Trạng Trình phán Phật Vương sẽ vì các “anh hùng” mà làm Việt Nam sụp đổ chết như rạ để các “anh hùng” lũ lượt kéo về xây dựng đất nước làm chỗ buôn lậu ma túy tiếp vậy.

Điều tôi nhận xét về Sấm Trạng Trình là:

- Đối Với Bản In: không rõ vì sao các bản in tôi tìm thấy được đều kỳ dị, đọc như mớ hổ lốn vừa nôm vừa na vừa Hán vừa ta trong suốt 485 dòng sấm, không thể tin đó là từ thần bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoặc nếu nguyên tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự tuyệt hảo về văn chương hàn lâm thi phú thì bản dịch cho tác phẩm mang tên Sấm Trạng Trình đã hàng trăm năm nay không là công trình nghiêm túc của người dịch có học thức.

- Đối Với Người Đọc: không rõ vì sao người Việt của rất nhiều thế hệ của rất nhiều thế kỷ đều sẻ chia chung một ý nghĩ rằng những từ Hán Việt hiếm hoi trong bản dịch vừa nôm vừa na vừa Hán vừa ta là nói về các năm, như: năm Rồng (Long), năm Rắn (Xà), năm Ngựa (Mã), năm Dê (Dương), năm Khỉ (Thân), năm Gà (Dậu), v.v., để rồi bị hố liên tục, chờ tiếp chu kỳ một kỷ tức 12 năm tiếp theo, hy vọng “ngày ấy” sẽ đến.

Tôi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không “huỵch toẹt” gì cả trong những lời tiên đoán hay sấm truyền của Ông. Thí dụ rõ nhất là đối với giai thoại về “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân” tôi lại thấy nêu bật những ba điều gồm (a) câu cú cực chuẩn, văn vẻ, văn chương hàn lâm, chứ không hỗn độn như bản dịch Sấm, (b) ngụ ý xa vời để không phạm tội tiết lộ thiên cơ, và (c) không hề “bói” rằng triều đại nhà ấy chỉ cần vào ấy là tồn tại hàng vạn đời mà rõ ràng là Ông chỉ khẳng định rằng đất nước ta tồn tại muôn đời sau khi trãi rộng Nam Tiến vượt Hoành Sơn, chứ tầm cỡ như Ông không thể làm kẻ vẽ đường cho một triều đại nào cả.

Dựa vào những nhận xét trên, tôi thấy kiểu diễn giải bám vào ý sơ đẳng (dịch từng chữ một) để nói Cuối Năm Rồng, Đầu Năm Rắn Có Chiến Tranh (Long Vĩ Xà Đầu Khởi Chiến Tranh) là không sâu sắc vì tầm cỡ của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ cần dùng một trong hai, tức hoặc Long Vĩ, hoặc Xà Đầu, chứ không dùng cả hai, nếu thực sự ám chỉ năm Rồng hay năm Rắn, vì cuối năm rồng tức là…đầu năm rắn rồi, nếu dùng cả hai hóa ra “nhà thơ” bị bí từ ngữ hay sao! Ngoài ra, hầu như ai cũng diễn sai rằng “Đầu Năm Ngựa, Cuối Năm Dê” khi nói về “Mã Đề, Dương Cước” vì Đề là Móng, thì sao lại nói cứ như thể chỉ có chân trước của ngựa là có đóng móng để cho đó là “đầu năm”; và “cước” là chân, cớ sao lại cho rằng dê chỉ có chân sau để nói đến chuyện “cuối năm”?

Do đó, đoạn

Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình …

cần được hiểu như sau:

… Cái con quái thú đầu rắn đuôi rồng quậy phá

Khiến nơi nơi bất ổn vì phải dồn sức chống ngăn

Song, nếu ngựa mà xưng hùng xưng bá xuất chiêu đạp dê, sẽ bị dê đá bại

Dân ta cứ như chú gà nhỏ bé nhưng sẽ đường bệ gáy vang khi thấy rực sáng ánh dương

Diễn nghĩa thêm, có khi ta nghiệm được lời dặn sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:

“Hỡi con dân nước Việt, đừng sợ bất kỳ bọn siêu cường nào vỗ ngực xưng rồng (Thiên Tử) vì chúng chỉ giỏi hù dọa thôi do đuôi thì tuy giống rồng thật đấy, chứ bản mặt thì nhỏ xíu như mặt rắn nước; nếu chúng xưng hùng xưng bá tự cho mình đẹp đẽ như ngựa chiến lớn đùi to chân dài chà đạp chúng ta thì nước ta tuy nhỏ yếu như dê cũng sẽ tiêu diệt được chúng; và nước ta vẫn cứ thế: bản thân tuy nhỏ nhưng đẹp, đủ lông đủ cánh mà gáy vang vì muôn đời ánh sáng luôn chiếu rọi trên đất nước chúng ta”.

Do chỉ có Trung Quốc hay xưng mình là Thiên Tử, là rồng, nên ắt là đối tượng được ám chỉ trong Sấm Trạng Trình. Như vậy, Trung Quốc đang là con quái vật mặt rắn bẹp lưỡi dài chẻ nhánh, có đuôi mọc gai giống đuôi rồng, chẳng khác gì hàng không mẫu hạm rĩ sét Varyag được phủ bằng lớp sơn cực đẹp chứa độc tố kẽm (còn sót lại sau sự thất bại sản xuất đồ chơi búp bê bán qua Mỹ) biến thành Thi Lang, chở vài chục chiến đấu cơ tàng hình Chengdu J-20 mà khoe là sẽ cho Raptor F-22 của Mỹ và Sukhoi PAK FA T-50 của Nga ngửi khói xịt phía sau để biết thế nào là lễ độ với mùi Trung Quốc, được lái bởi bọn “giặc lái” hậu duệ bọn thảo khấu Lương Sơn Bạc chuyên gia bán bánh bao nhân thịt người (tức bọn cướp cạn lúc nào cũng tự xưng “anh hùng”), từ nhỏ được nuôi bằng sữa bột có pha melamine hiệu Sanlu. Nói tóm lại, cái con quái thú mình giun, đuôi rồng (long vĩ), đầu rắn (xà đầu) có tên Trung Quốc nếu tấn công Việt Nam (hình cong chữ S giống mình chú gà ngồi nghểnh cổ – tức là mình gà, còn gọi là thân gà, nếu toàn Hán Việt thành … Thân Dậu) sẽ bị Việt Nam đánh cho đại bại, hết kiếp xưng bá (bá chủ Biển Đông) xưng hùng (Anh Hùng…Xạ Điêu).

Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, nói: “Nếu chiến tranh xảy ra, không bên nào chiến thắng.” Đó là ngôn phong vị tướng lĩnh làm công tác đối ngoại lịch lãm với báo giới.

Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trình Tuyền Hầu nhà Mạc, để lại cho con dân anh dũng của nước Việt hào hùng một lời trấn an, đúng mực bậc tài hoa “thiên cơ bất khả lậu” gởi gắm trong câu sấm một khẳng định tuyệt vời: Nếu chiến tranh xảy ra, chỉ có Việt Nam chiến thắng. Đó là ngôn phong nhà giáo thiên tài nho nhã đối nội lịch lãm với hậu thế.

Công dân Hoàng Hữu Phước do tin rằng mình nghiệm ra và giải mã được lời trấn an của Trạng, nên trong đêm khuya thanh vắng ở Thủ Đô nghe tiếng gió rít mưa sa của cơn bão số 3, viết rằng: Mã đề dương cước anh hùng tận = Ngựa mà đạp Dê sẽ bị Dê đá trả khiến“anh hùng Lương Sơn Bạc”bị diệt vong = China Delenda Est = Sinās Delenda Est = Trung Quốc Phải Bị Tiêu Diệt! Đó là ngôn phong người học trò bình dân mon men văn luyện võ ôn, tập tành ráp nối dăm ba chữ Latinh và Hán Việt sơ đẳng khi đối thoại với trần nhà. (Kính mong các tu sĩ chủng viện và các bậc túc nho rộng lòng chỉ giáo.)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

www.myabiz.biz



Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

(From the Greatest to the Worst)

Hoang Huu Phuoc, MIB

27-6-2011

A) Từ Vĩ Đại

 Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi …tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

 

B) Đến Tệ Hại

 

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?  

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi” (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên), vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda China est!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

www.myabiz.biz

Cùng Chủ Đề:

Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta.  http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta

Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy.  http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975

Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu



900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075 – 30/4/1975

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nét Đẹp 1: Thần Uy Tiên Phát Chế Nhân

Sau khi nhận được tin tình báo và phản gián về việc Nhà Tống có những động thái tập trung quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc cho kế hoạch xâm lược nước Nam, Lý Thường Kiệt trở thành vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam dùng kế “đem đại binh đánh trước để chặn thế mạnh của giặc” chủ động tấn công “thiên triều”, đè bẹp ý chí xâm lược và phá tan uy danh cùng lực lượng quân sự của nhà Tống.

Nét Đẹp 2: Thần Uy Phạt Tống Lộ Bố Văn

Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam dương oai diệu võ sử dụng cung cách tất cả các hoàng đế “thiên triều” luôn áp dụng mỗi khi xua quân tràn qua biên giới các tiểu quốc lân bang trong các cuộc Chinh Tây, Tảo Bắc, Bình Nam, Chinh Đông: phát hịch văn bố cáo thị uy thiên hạ các tiểu quốc. Bài hịch văn bố cáo Phạt Tống Lộ Bố Văn phát đi trước đến các vùng lãnh thổ nước Tống như thể Tống là xứ sở man di và Việt vâng mệnh Trời thuận thiên hành đạo ra tay cứu dân Tống, có nội dung phán dạy của đấng bề trên trưởng thượng đầy ngạo mạn như sau:

Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Lý Thường Kiệt khởi đại binh tấn công vào đất Tống, thực hiện đại cuộc kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng, thấy điều nghĩa hiệp mà không làm thì sao đáng gọi là trang vũ dũng, chứng kiến cảnh dân Tống lầm than mà không ra tay cứu độ thì sao đáng gọi đấng anh hùng. Dân Tống đọc bố cáo bao xiết vui mừng, bày bàn hương án quỳ phục lạy hai bên đường, dâng tặng quân lương, cung cấp đầy đủ thông tin các trận tuyến, đón chào quân đại nghĩa.

Nét Đẹp 3: Thần Uy Viễn Chinh Phạt Tống

Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam làm vẻ vang rạng ngời danh tiếng hải quân. Khi đưa hạm đội thủy binh từ Móng Cái đến chiếm Khâm Châu ngày 30/12/1075, Lý Thường Kiệt không phải tốn đến một mũi tên hòn đạn do hiệu quả tuyệt diệu của tổ chức tình báo và phản gián làm quân Tống khiếp đảm đầu hàng, còn toàn bộ tướng lĩnh trấn thủ Khâm Châu đều bị Lý Thường Kiệt bắt sống tại bàn yến tiệc rồi sai quân đem ra xử trảm bêu đầu thị chúng, khai mào cho chiến công bức hạ Liêm Châu chỉ sau đó 3 ngày giết sạch các văn quan võ tướng trấn nhậm Liêm Châu, với sự phối hợp của lục quân trước đó đã làm cỏ tất cả các thành trì, doanh trại Tống quân trên đường tràn sang Phạt Tống. Sau hai tuần bình định vỗ an bá tánh, bắt vạn tù binh vận chuyển tất cả kho tàng chiếm được về nước Việt, Lý Thường Kiệt đưa quân từ Khâm Châu tiến sang tấn công vây hãm Ung Châu, trong khi đạo quân đã triệt hạ Liêm Châu tiến chiếm Bạch Châu chặn đường vận lương tiếp viện của quân Tống. Dù thành trì Ung Châu cực kỳ kiên cố và nhà Tống tập trung toàn lực cứu viện, Lý Thường Kiệt vẫn lấy thủ cấp Tống Tướng Trương Thủ Tiết cùng các đại tướng khác của đoàn quân tiếp cứu như lấy đồ trong túi, và chiếm Ung Châu sau 42 ngày đêm đã viện công đồn. Lý Thường Kiệt bắt tù hàng binh phá tan Ung Châu, san thành bình địa để lấy đá lấp sông chặn thủy lộ, xóa sổ vĩnh viễn một di tích lịch sử trên bản đồ của nhà Tống khiến muôn đời không thể lưu truyền hậu thế. Thừa thắng, Lý Thường Kiệt xua quân khí thế ào ạt đánh chiếm Tân Châu. Quan quân nhà Tống nghe tin vội bỏ thành đào thoát. Quân Nam tiến quân vũ bảo như vào chỗ không người, chiếm đóng cả vùng lãnh thổ mênh mông.

Cuộc hành quân thần tốc của Lý Thường Kiệt nhằm đánh phủ đầu vào đất Tống đại thắng. Lý Thường Kiệt đường bệ rút quân, đem theo vô số tù hàng binh bắt được từ Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu giải về nước Việt cho vào làm phu khai khẩn vùng đất ngày nay là Thanh – Nghệ.

Nét Đẹp 4: Thần Uy Nam Quốc Sơn Hà

Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam có khả năng lập phòng tuyến chiến lược chặn đứng đoàn quân viễn chinh xâm lược hùng hậu của Nhà Tống chỉ sau 5 tháng kể từ khi ca khúc khải hoàn từ cuộc viễn chinh Phạt Tống. Phòng tuyến Sông Như Nguyệt đã giam chân đại binh báo thù của Tống, làm tiêu hao lực lượng quân Tống đến nỗi khi mừng rỡ nghe lời ngỏ ý giảng hòa do Lý Thường Kiệt ra ân ban tặng, tướng Tống là Quách Quỳ vội vã nhận ngay và cho rút quân về Tống, kiểm điểm thống kê thấy chỉ sau 8 tháng tấn công nước Việt, 300.000 quân sĩ thiện chiến cùng dân phu được đưa sang đánh Việt nay chỉ còn lại 23.400 thương binh lên đường về nước, 100.000 chiến mã chỉ còn 3.174 con lão nhược, hao tổn ngân khố hết 5.190.000 lượng vàng ròng.

Cũng như thần uy của Phạt Tống Lộ Bố Văn đã khiến Nhà Tống đại bại trên đất Tống, thần uy của Nam Quốc Sơn Hà  khiến Nhà Tống đại bại trên đất Việt:

 

 

Tất cả 4 nét đẹp trên đã tạo nên bức họa đồ tuyệt diệu của đất nước Việt Nam độc lập kiêu hùng.

 

 

Bức Ảnh Đẹp 1: Thần Uy Cùng Lúc Đánh Đuổi Quân Đội Hoa Kỳ Vĩnh Viễn Ra Khỏi Việt Nam Với Sự Độ Lượng Ban Ân Thời Gian Di Tản Không Vận, Và Xóa Sổ Vĩnh Viễn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Những chiến binh tươi tắn hân hoan, lực lưỡng oai phong, lẫm liệt tự hào, hướng dẫn hàng binh đến điểm tập kết trong ngày chiến thắng.

Bức Ảnh Đẹp 2: Thần Uy Hòa Bình – Thống Nhất – Độc Lập

Những chiến binh chiến thắng rời tháp pháo chiến xa, tươi tắn thư sinh, bình dị quân phục dạo phố phường ngày hòa bình đầu tiên của Việt Nam thống nhất.

Bốn nét đẹp cùng hai bức ảnh đẹp đã nói lên tất cả:

 .

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

098-8898-399

www.myabiz.biz

(bài viết đăng ngày 30-5-2011 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975 )

Nguồn tham khảo từ Wikipedia, với ghi chú trích dẫn từ:

Đại Việt Sử Lược

Hoàng Xuân Hãn. 1996. Lý Thường Kiệt, Lịch Sử Ngoại Giao và Tông Giáo Triều Lý. NXB Hà Nội

Lý Tế Xuyên. 1960. Việt Điện U Linh. NXB Văn Hóa. Hà Nội.

Phạm Hồng Sơn. 1990. Nghệ Thuật Đánh Giặc Giữ Nước Của Dân Tộc Việt Nam.

Phạt Tống Lộ Bố Văn. Bản dịch của Trần Văn Giáp. Thơ Văn Lý Trần – Tập 1

Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược

Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam. 2003. Lịch Sử Quân Sự Việt Nam. NXB Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội



Trăm Trứng – l‎ý giải mới cho một tích cũ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Có lần tôi nghe vài bạn trẻ “thuần Việt” tụ năm tụ ba tại một quán cà phê nói chuyện. Gọi là “thuần Việt” vì những đặc trưng không thể lẫn lộn cầu âu với các giống dân khác là: đầu tóc bắt chước style Hàn Quốc, handphone hàng hiệu cùng laptop cao cấp bày chật mặt bàn, thích nhơi đi nhơi lại những lẩm ca lẩm cẩm mà thiểu số chống Cộng hay khạc ra, và chê bai tất cả những gì của Việt Nam, kể cả lịch sử giống nòi của chính mình, đặc biệt khi cà khịa về tích Mẹ Tiên Âu Cơ lấy Cha Rồng Lạc Long Quân sinh ra trăm trứng nở ra trăm con, rồi chia tay mỗi người một ngả, dẫn theo 50 đứa con như sự chia rẽ sâu sắc, mất đoàn kết nghiêm trọng, và thích “chơi ăn gian” (Cha dành đi về vùng đồng bằng cho sung sướng kiếp Dân Kinh, đẩy Mẹ lên chốn núi non hiểm trở gian nguy thành Người Thượng) ngay từ khởi thủy của nòi giống Tiên Rồng.

Ở đây sẽ không lạm bàn về nội dung cố tình muốn xúc xiểm có ác ý hay vô tình từ văn hóa thấp của những người nói động đến nguồn gốc tổ tiên Việt, nhưng không thể không đưa ra vấn đề ghi lại lịch sử theo chiều hướng cách tân và logic. Lịch sử không là tôn giáo nên không thể kêu gọi một thứ đức tin mà bất kỳ sự nói nghịch lại đều mang tội báng bổ tày đình. Tôn giáo pháp đình đưa bao người lên giàn hỏa hoặc xử tử bằng hình phạt khét tiếng man rợ “đóng nõ đít” tức đóng ngập súc cây tròn vuốt nhọn vào hậu môn kẻ bị kết tội báng bổ thượng đế và kinh thánh, và chỉ có đức tin mới làm cho người theo đạo không bao giờ dám đặt câu hỏi: nếu thượng đế ban đầu chỉ tạo ra mỗi một nam và một nữ sẽ không bao giờ có nhân loại ngày nay vì con cái của hai người ấy phạm tội loạn luân nếu lấy nhau rồi sinh con đẻ cái, và phản khoa học vì sự phối hợp đồng huyết thống ấy sẽ chỉ sinh ra những trẻ em bị chứng loãng máu èo uột không thể sống còn. Nhưng lịch sử thì khác, nhất thiết phải được chỉnh sửa hoặc lý giải theo cách đã loại bỏ các nội dung mà tư duy duy lý ngày nay không thể chấp nhận được.

Vốn tôn trọng hậu duệ, tôi đã từng giải thích cho con tôi truyền thuyết Việt Nam theo một logic mới, gia tăng sự tự hào nơi con trẻ, đồng thời triệt tiêu các mầm mống nhen nhúm trong tư duy những ý nghĩ tiêu cực đối với tổ tiên dân tộc. Nội dung cách tân của tôi về truyền thuyết cổ như sau:

Mẹ Việt Nam là Âu Cơ hiền thục xinh đẹp như Tiên, còn Cha Việt Nam là Lạc Long Quân dũng mãnh sức vóc bệ vệ uy nghi như Rồng. Thủa xa xưa khi thế gian này còn trong lành tuyệt đối, chưa bị ô nhiễm đe dọa, tổ tiên ta mạnh khỏe, lập gia đình từ rất sớm, sống hạnh phúc, có thật nhiều con, và tất nhiên có những năm Mẹ Âu Cơ sinh đôi, sinh năm, sinh mười, và điều đúng với khoa học là nếu người đàn ông không bia rượu, thuốc lá cà phê, chơi bời trác táng yến tiệc thâu đêm, thì khả năng sinh con trai là rất lớn, nên hai ông bà đã có với nhau đến 100 đứa con trai là chuyện bình thường. Thế nhưng hiểm họa muôn đời đối với người Việt luôn đến từ bọn giặc Tàu phương Bắc, mà tổ tiên người Việt phải không được mất cảnh giác để còn bảo vệ và lưu truyền dòng giống Việt cho đến tận mai sau, nên chờ đến khi những đứa con út cứng cáp, Âu Cơ và Lạc Long Quân thực hiện kế hoạch vạn l‎ý trường di vĩ đại đã bàn từ trước: buộc phải rơi nước mắt bịn rịn chia tay. Âu Cơ tình nguyện hy sinh cùng 50 người con trai trưởng khéo léo bám trụ chốn núi thẳm rừng sâu, nếm mật nằm gai, quán xuyến hậu cần, lo tạo quân nhu, chế tạo cung nõ, dựng vợ cho 50 dũng tướng, điều động hàng trăm con dâu chăm sóc cháu con, gia tăng dân số, hình thành các bộ tộc hùng cứ núi non, đánh chặn bước chân xâm lược của tổ tiên Trung Quốc, sáng tạo binh pháp (mà sau này Tôn Tử của Trung Quốc với kinh nghiệm thất bại của tiền nhân cũng buộc phải học tập mô phỏng theo mà cóp nhặt ghi vào sách dụng binh lưu truyền hậu thế, và Đại tướng Võ Nguyên Giáp áp dụng tiêu diệt quân đội viễn chinh Pháp) : chiếm cứ vùng cao tập kích tấn công giặc dưới vùng trũng thấp, và đã thành công. Trong khi đó, Cha Lạc Long Quân sức vóc mạnh mẽ, trí tuệ tài cao, uy dũng hơn Rồng, chỉ đạo các con đứa lớn ẵm bồng đứa bé dưới trường côn và tầm vông vạt nhọn bảo vệ của Cha, dần tiến xa hơn về phương Nam, tổ chức hiệu quả các đơn vị hành chánh và quân sự cộng đồng để các con được an toàn hơn, không bao giờ bị truy sát bởi giặc Tàu nhờ ở thật xa phía sau có ơn cao của Mẹ và nghĩa cả của các anh hy sinh gan óc văng tóe lầy trùng điệp núi non, máu tươi phun nhuộm đỏ nước suối ngàn, thân thể rách trần muôn mảnh bón xanh tươi rừng rậm, mắt đầu lâu giặc bêu ngọn giáo không thể nhắm nghiền vì còn dõi ngóng bóng dáng uy dũng Cha hiền biền biệt phương Nam, hồn phách lạc chỉ biết dật dờ phiêu linh dõi lần tìm về nhà Việt. Hạnh phúc của tổ tiên ta ngay từ khởi thủy đã phải buộc không toàn vẹn, chấp nhận chia ly đau thương uất hận vì sự sinh tồn của dân tộc, và tất cả đã toát lên tình phu thê, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình huynh đệ tuyệt vời nhất của dòng giống Lạc Hồng mà không có bất kỳ dân tộc nào trên thế gian này có được: tất cả hy sinh vì mục đích cao cả, với sự đoàn kết vĩ đại và cao thượng, để đạt mục đích tối thượng: dân tộc Việt Nam phải trường sinh, đất nước Việt Nam phải trường tồn.

Đó là l‎ý do ở Việt Nam, Kinh-Thượng một nhà là một thực tế lịch sử hào hùng, bi tráng.

Đó là l‎ý do Việt Nam dù có ở cùng vĩ độ địa dư hay cùng khu vực địa lý với nhiều nước khác, vẫn được xem là có người dân có hình thể và sắc vóc xinh đẹp hơn nhiều so với dân tộc ở các quốc gia ấy. Mẹ Âu Cơ của dân tộc Việt hiền thục xinh đẹp như Tiên, và Cha Lạc Long Quân của dân tộc Việt Nam khỏe mạnh cường tráng uy dũng như Rồng: đó là kết hợp tinh túy tạo nên dòng giống Tiên Rồng của dân tộc Việt Nam vĩ đại.

Một l‎ý giải mới trên nền khoa học, logic, đầy tự hào, cho một tích cũ của Việt Nam.

Mong sao lý giải trên được truyền lưu trong cộng đồng người Việt và chính thức sử dụng chốn học đường.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tê

www.myabiz.biz

(22-7-2010: http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu )