01 May 2012
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc, MIB
01-5-2012
Việc thành lập ACFTA – tức Khu Vực Thương Mại Tự Do ASEAN -Trung Quốc – là điều dại dột nhất trong toàn bộ lịch sử tồn tại của Khối ASEAN.

Nhiều năm trước khi học lớp thạc sĩ kinh doanh quốc tế, tôi đã làm vị giáo sư Mỹ ngạc nhiên khi Ông hào hứng giảng về CHINDIA như tương lai xán lạn của một khối kinh tế hùng mạnh sẽ thống trị thế giới vì “Văn Phòng Của Thế Giới” Ấn Độ sẽ liên kết với “Công Xưởng Của Thế Giới” Trung Quốc (China + India = Chindia) hình thành một thực thể thị trường khổng lồ với tổng dân số của hai quốc gia đông dân nhất thế giới này lên đến nhiều tỷ người, thì tôi lại viết bài tiểu luận nộp giáo sư Mỹ để đã phá cái phát kiến điên rồ ấy (đồng thời tóm tắt qua bài “People Say Chindia, I say Vietnam” trên Yahoo!360), cho rằng nó sẽ không bao giờ hình thành, với những viện dẫn không thể hùng biện hơn về các yếu tố lịch sử, chủng tộc, văn hóa-xã hội, và tầm vóc tư duy, v.v., tất cả sẽ khiến cái thực thể mang tên Chindia chỉ có thể xuất hiện 30 năm sau Ngày Tận Thế. Tất nhiên, cho đến nay, Chindia vẫn còn nằm yên trên trang giấy trong những tác phẩm bán chạy của những nhà trí thức tư bản của những học viện kinh tế lừng danh.
Tương tự, khi toàn bộ hệ thống truyền thông đại chúng ở Việt Nam lên cơn sốt với thương hiệu quốc gia “Nhà Bếp Của Thế Giới” từ ngay sau buổi thuyết trình ngày 22/8/2007 của Philip Kotler, với từ Phở được lập đi lập lại tràn ngập trong các bài viết và các buổi phỏng vấn đến độ giở trang báo đã ngữi thấy mùi Phở và ngay cả tivi cũng toát ra mùi Phở, thì tôi khẳng định trên Yahoo!360 rằng đó không bao giờ là nội hàm trong lời nói của Kotler (tôi biết rất rõ nhờ tôi có tham dự buổi thuyết trình của Kotler và nhờ tôi … không dùng headset nghe nội dung dịch thuật tiếng Việt), rằng không bao giờ đó là danh xưng của Việt Nam, và rằng Phở chỉ là món ăn tầm thường trong danh mục ẩm thực quốc tế. Tất nhiên, cho đến nay, “Nhà Bếp Của Thế Giới” chẳng là của Việt Nam, Phở chẳng là kiệt tác ẩm thực của Việt Nam, và cả “Nhà Bếp Của Thế Giới” cùng Phở đã mất tích trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào kể từ đầu năm 2009.
Năm 2010 khi nghe sự hình thành ACFTA, tôi đã tiếc sao mình chẳng thể làm gì để ra tay can ngăn sự ký kết dại dột của ASEAN với Trung Quốc. Khối ASEAN với mười quốc gia gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, và Việt Nam, đã kỳ vọng sai lầm rằng việc ký kết với Trung Quốc sẽ hình thành nên một khối tự do mậu dịch kỳ vĩ lớn hàng thứ ba thế giới, một khu vực tự do thương mại đông dân nhất hành tinh, và cũng là một vùng tự do thương mại hàng đầu của thế giới các quốc gia đang phát triển. Đó là sự vụng tính Lose-Win hơn là một kế sách Win-Lose nghiêm túc, khôn ngoan, nhất là trên thực tế không bao giờ tồn tại bất kỳ tình thế thực chất nào mang tính Win-Win. Đó là việc rước voi về dày mã tổ chứ nào phải mình được cùng ngự cưỡi lưng voi. Tôi đành tắc lưỡi nói với các cộng sự thân tín rằng ACFTA chỉ là một thực thể trên giấy để trang trí cho một bức tường chứ không bao giờ có giá trị trong đời sống thật, và Khối ASEAN hỡi hãy chống mắt mà xem mình Lose ra sao và Trung Quốc Win thế nào! Thiết tưởng không cần luận giải gì thêm vì Phở có giá hơn ACFTA nhiều nên nếu giải thích vì sao ACFTA sẽ thất bại, hóa ra tôi ban cho ACFTA cái diễm phúc được ngang hàng với món Phở hay sao? Và tất nhiên, cho đến nay, ACFTA cũng chẳng là cái thực thể kinh tế kinh khủng kinh hồn kinh nhỉ kinh thiên động địa gì cả, và trang web của nó cũng chỉ cập nhật các thông tin kinh tế bình thường của các nước trong khu vực y hệt như những gì lẽ ra đã xảy ra y hệt như thế mà không cần có cái ACFTA, như bằng chứng rõ nét nhất là ACFTA bặt vô âm tín trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào ở Việt Nam kể từ đầu năm 2011.
Giá như trước đây tôi chịu khó theo đuổi chương trình tiến sĩ thì ắt những phân tích mang tính tiên đoán về số phận của ACFTA ngay từ 2010 đã có thể là nội dung bài luận án của tôi để các giáo sư Mỹ lại thêm phen sửng sốt, tâm phục khẩu phục, và ngữa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi ôi, cái sở học của Nước Mỹ thân yêu của ta nay đã đổ hết cả về Việt Nam Quốc rồi!”
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
Tài liệu tham khảo:
a) Philip Kotler / Phở
Hoàng Hữu Phước. 07-8-2008. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam
Hoàng Hữu Phước. 06-8-2008. National Branding: Vietnam, The Campus of the World. http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world
b) Phê Bình Trình Độ Danh Nhân Nước Ngoài
Hoàng Hữu Phước. 07-6-2009. Vì Sao Tôi Không Quan Tâm Đến Buổi Hội Thảo Của Paul Krugman. http://www.emotino.com/bai-viet/17866/vi-sao-toi-khong-quan-tam-den-buoi-hoi-thao-cua-paul-krugman
Hoàng Hữu Phước. 17-8-2009. Thưa Giáo Sư Tom Cannon, Ông Đã Hoàn Toàn Sai Khi Nói Về Anh Quốc Và Lúc Liên Hệ Đến Việt Nam. http://www.emotino.com/bai-viet/18055/thua-giao-su-tom-cannon-ong-da-hoan-toan-sai
Hoàng Hữu Phước. 09-9-2010. 20 Yếu Điểm Tai Hại Của Balanced Scorecard. http://www.emotino.com/bai-viet/18797/20-yeu-diem-tai-hai-cua-balanced-scorecard
Hoàng Hữu Phước. 13-9-2010. So Sánh Khập Khiễng Của Warren Buffett. http://www.emotino.com/bai-viet/18814/so-sanh-khap-khieng-cua-warren-buffett
12 Apr 2012
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Vịnh Bức Dư Đồ Rách
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, 1922
Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông núi núi khéo bia cười.
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tả tơi!
Ấy trước ông cha mua để lại,
Mà sau con cháu lấy làm chơi!
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi!
Vịnh Bức Dư Đồ Rách
Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 1972
Kia bức dư đồ ta đứng coi,
Chợt nghe đâu đó tiếng vui cười
Dzô dzô thúc nhậu tiêu văn vẻ,
Khề khà cẩu nhục dáng tả tơi!
Nghĩ trước ông cha công dán lại,
Dè đâu con cháu xé toạc chơi!
Than ôi già bạo chơi hơn trẻ,
Chắc chỉ còn ta muốn đắp bồi!
Vịnh Bức Dư Đồ Vá
Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 1975
Đội đá ta nào nhái Bà Oa,
Đất nước chia hai tủi nhục nhà.
Ngoại bang hể hả phường cẩu trệ,
Nội tình hí hửng lũ nô gia.
Độc Lập dinh kia tăng tông cửa,
Tân Sơn sân nọ “Sấm” húc “Già”.
Non sông nay vá liền một mối,
Việt Quốc giờ đây ắt thịnh hòa.
Vịnh Bức Dư Đồ Mới
Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2009
Núi núi non non đỉnh dõi trông,
Sông sông nước nước cảnh mênh mông;
Động Đình Hồ ấy quê nòi giống,
Hoàng Sa Đảo nọ đất tổ tông.
Xoạc cẳng băng ngang dòng Dương Tử,
Vói tay thâu lại cõi Hồ Nam.
Việt Quốc địa đồ vươn cao rộng,
Xích Quỷ hoàn nguyên quyết lập công.
Vịnh Bức Dư Đồ Mới Hơn
Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2010
Xích Quỷ hoàn nguyên ấy đại công,
Dương Tử sông kia quyết cưỡi rồng,
Cõi Việt Động Đình đem điểm xuyết,
Trời Nam cẩm tú rạng tổ tông.
Trống đồng vỗ mặt ngân dậy núi,
Tiêu Tương phẩy quạt gió rạp thông.
Thu về Việt Quốc giang sơn rộng,
Bờ cõi mênh mông thỏa thỉ bồng.
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
02 Feb 2012
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc,MIB
Năm 1985 khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên Âu Mỹ nhân đại lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố:
“Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn luôn sang xâm lược Việt Nam. Nhân dân Việt Nam là người chống xâm lược và cũng luôn luôn là người chiến thắng. Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang đi theo vết xe đó.
Như mọi người đều biết, chính Trung Quốc cách đây không lâu đã dùng 60 vạn quân xâm lược biên giới phía bắc của Việt Nam, và hiện nay vẫn tiếp tục vi phạm biên giới Việt – Trung, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, gây nên tình hình căng thẳng giữa hai nước, họ cũng đang tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống nhân dân chúng tôi. Ở Cam-pu-chia, nhà cầm quyền Trung Quốc câu kết với Thái-lan dùng bọn diệt chủng Pôn Pốt chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia và đe dọa nền an ninh của Việt Nam. Do đó việc Trung Quốc nói chúng tôi khiêu khích và xâm phạm lãnh thổ của họ chỉ là điều vu khống bỉ ổi. Không bao giờ chúng tôi làm như vậy. Đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn quen thuộc của Trung Quốc ‘vừa ăn cướp vừa la làng’. ”
Trong khi đó, viên đại tướng Văn Tiến Dũng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhận định:
“Bắc Kinh đã leo một nấc thang mới hết sức nguy hiểm. Họ đang tiến hành một dạng chiến tranh lấn chiếm biên giới hòng gặm nhấm từng phần đất đai của chúng tôi, kết hợp với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên cả nước nhằm làm suy yếu để tiến tới thôn tính Việt Nam. Họ còn lớn tiếng đe dọa chúng tôi với giọng lưỡi nước lớn trịch thượng quen thuộc của họ.”
Tất cả cho thấy ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam đã phải đương đầu – hay nói đúng hơn là: tiếp tục con đường của tổ tiên đương đầu – với Trung Quốc, kẻ “luôn luôn” mong muốn xóa sổ Việt Nam, thực thể duy nhất trên thế gian này “luôn luôn” đánh bại Trung Quốc ngay từ đời tiên đời tổ Trung Quốc, và “luôn luôn” ngáng đường bành trướng của Trung Quốc về phương Nam khiến vẫn chưa ngày nào trong 5.000 năm qua đoàn quân cháu con lũ giặc Lương Sơn Bạc tiến được đến Châu Úc bao la và vùng Cực Nam băng giá tiềm tàng tài nguyên phong phú.
Nicolai Stepanovic Kuleisov trong tác phẩm Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc đã nhắc nhở nhân loại rằng để thực hiện những tham vọng địa chính trị của họ, Bắc Kinh tiến hành những hành động xâm lược chống lại Ấn Độ, Việt Nam, và những nước láng giềng khác; họ in những tấm bản đồ địa lý mà trên đó những lãnh thổ của các nước Nam Á và Đông Nam châu Á – như Ấn Độ, Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Lào, và những nước khác – lại được ghi thuộc Trung Quốc. Họ thậm chí ghi rằng vùng đảo đá ngầm gần bờ biển bang Sarawak của Malaysia là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Hoa. Những việc ngang ngược mang tính bá đạo bá quyền nước lớn cho thấy Đông Nam Á đã luôn là đối tượng chiến lược hàng đầu của chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh.
Trước sự tháo chạy của Mỹ khỏi Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO khiến giềng mối của các nước đàn em dưới tên gọi đồng minh Mỹ trong khu vực không còn kết dính vững chắc, Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán đã nhanh tay triển khai các hoạt động quân chính của họ tại Đông Nam Á với kỳ vọng sự phân hóa của các dân tộc trong vùng mà đặc điểm là đa số chưa sẵn sàng thân thiện với Việt Nam Cộng Sản sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến quân mở rộng bờ cõi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nuốt trọn tất cả các quốc gia này. Tuy nhiên, “việc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất hùng mạnh bước lên vũ đài quốc tế đã tăng thêm khuynh hướng hợp tác tương trợ trong nội bộ” các nước Đông Nam Á của khối mới ASEAN, giúp ngăn chặn được chủ nghĩa bá quyền Đại Hán càng thúc giục “những lãnh tụ của Trung Quốc đã làm tất cả để làm suy yếu vị trí của Việt Nam” tiến đến loại bỏ Việt Nam, trở ngại duy nhất trên con đường bành trướng của Bắc Kinh.
Cũng theo Kuleisov, những tham vọng của Bắc Kinh thoạt đầu được biểu hiện ra vào năm 1974 khi quân Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố những đảo này “mãi mãi thuộc về Trung Quốc”. Những “sự kiện và tư liệu” được sử dụng để biện bạch cho việc chiếm đóng trái phép những hòn đảo ấy đã xuất hiện trên báo chí Trung Quốc, rằng chúng đã thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ XV, rằng chúng đã được những người đi biển Trung Quốc phát hiện ra từ triều đại nhà Hán, đã liên tục được các thương nhân cùng những du khách từ Trung Quốc ghé thăm, và những đồng tiền Trung Quốc do các nhà khảo cổ học phát hiện đã nói lên điều đó, v.v. Trong khi thực chất là nhằm chiếm giữ khu vực dồi dào dầu hỏa chất lượng cực tốt so với dầu hỏa họ khai thác tại vùng dầu hỏa lớn nhất Trung Quốc là Đại Khánh lại có chất lượng thua kém và giá trị thấp hơn nhiều.
Ngày 17-02-1979, biển người hơn nửa triệu quân chính quy tinh nhuệ Trung Quốc cùng hàng ngàn xe tăng và chiến xa cùng pháo binh hạng nặng đã ồ ạt tràn ngập toàn tuyến biên giới trải dài hơn 1.200 km của Việt Nam, man rợ tàn sát, hãm hiếp, cướp bóc, tàn phá, nhằm nhanh chóng thôn tính Việt Nam, hoặc ít ra là làm suy kiệt tiềm năng quân sự và suy tàn nền kinh tế èo uột của Việt Nam, phá hoại sự ổn định nội bộ của đất nước này, đe dọa và trấn áp nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần, bắt Việt Nam phải phục tùng thiên triều Trung Quốc. Song, cuộc chiến tranh 16 ngày ở Việt Nam đã không đưa lại cho Trung Quốc một kết quả nào cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Các chiến sĩ biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân địa phương Việt Nam đã phá tan không những toàn bộ chiến dịch xâm lược của Trung Quốc mà còn cả cái dự định lăm le sờ mó các nước khác ở Đông Nam Á. Tờ Wall Street Journal của Mỹ số tháng 3-1979 trong bài xã luận “Ai Dạy Cho Ai Một Bài Học?” đã viết một cách châm biếm rằng: “Trung Quốc ra khỏi cuộc chiến tranh này với sự ô danh tồi tệ hơn cùng cái mũi bị giập.” Hơn nửa triệu quân chính quy Trung Quốc đã bị Việt Nam đánh cho tan tác chỉ trong hai tuần, một chiến tích vẻ vang tuy chưa phá được kỷ lục của Chiến Dịch Hồ Chí Minh (chỉ trong 5 ngày đã đánh tan nửa triệu quân của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt).
Tháng Tết 2012 là thời khắc người dân Việt Nam chân chính nhớ đến tháng Tết 1979 để nghe ngân vang lời thề phục hận. Đã 33 năm kể từ ngày 17-02-1979 khi bọn giặc Tàu tràn qua biên giới Việt Nam mà sự man rợ không chỉ là tàn diệt người dân Việt mà còn qua sự giật mìn phá sập các di tích lịch sử như Hang Pắc Pó nhằm xóa sạch bất kỳ các vết tích nào mang tính tự hào dân tộc Việt Nam, nhất là khi di tích ấy lại liên quan đến Hồ Chí Minh, con người gầy gò đã khôn ngoan lèo lái cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho đất nước mà vẫn không lệ thuộc vào bọn bá quyền nước lớn.
Tháng Tết 2012 của Việt Nam là thời điểm thích hợp để đọc lại bài viết vào tháng Tết 2009 của Huy Đức trên Sàigòn Tiếp Thị:
***
Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)
Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“Những đôi mắt”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“Cuộc Chiến 16 Ngày”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Lặng Lẽ Hoa Đào
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
Huy Đức
***
Tháng Tết 2012 của Việt Nam lại phải chứng kiến việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.
Kết hợp cách dùng từ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thì Trung Quốc “luôn luôn gặm nhấm” các vùng lãnh thổ của Việt Nam.
Kết hợp cách dùng từ của hiện nay và của Nicolai Stepanovic Kuleisov thì cái lưỡi bò của Trung Quốc rất dài vì không những liếm láp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn thè ra đến tận các dãi san hô đá ngầm ven biển Bang Sarawak của Malaysia trên đảo Borneo.
Tháng Tết 1979. Tháng Tết 2012. Thời gian 33 năm không ngừng gia tăng cơn thịnh nộ của lời thề phục hận!
Trung Quốc đã đi vào vết xe đổ của Mỹ:



Và Trung Quốc rất có thể đang lầm tưởng rằng một cuộc xâm chiếm vùng Biển Đông của Việt Nam hầu tránh né đương đầu trực diện trên đất Việt, trên không Việt, trên sông Việt, trên núi Việt, sẽ an toàn hơn và bảo đảm hơn cho một thắng lợi quân sự, mà không nhận ra một sự thật rằng chúng sẽ không thể nào chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Chỉ 5 năm sau khi cướp đoạt Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa với sự hợp tác tích cực làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự hợp tác tích cực tuyên bố ủng hộ của Mỹ.
Đã 33 năm từ cuộc xâm lược ấy của Trung Quốc trên đất liền Việt Nam.
33 năm còn nguyên đó lời thề phục hận.
Lời thề ấy độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử nhân loại, vì đó là lời thề phục hận của người luôn luôn chiến thắng!
Những bài thơ mới với hình ảnh kèm theo sẽ tiếp tục được viết nên, có thể với cảnh lính Tàu bị trói thúc ké ngồi chồm hổm thu lu bên trong lưới cá trên thúng mủng do một nữ ngư dân áp giải vào bờ trong vùng biển huyện đảo Hoàng Sa vậy.
Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn
Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
Tham khảo:
1) Vì Sao Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Việt Nam. Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1986. Trang 11-12
2) Nicolai Stepanovic Kuleisov. Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc. Người dịch: Hùng Thắng. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982. Trang 56-70
3) Hoàng Hữu Phước. 2009. Huy Đức: Biên Giới Tháng Hai. http://www.emotino.com/bai-viet/17459/mot-bai-bao-dac-sac-cua-saigon-tiep-thi
4) Hoàng Hữu Phước. http://antichina.blog.com
19 Oct 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc, MIB
1) Hỏi: Thầy ơi. Em nhận được mấy link vào cái gọi là “Trung Quốc sẽ thôn tính Việt Nam trong vòng 31 ngày”. Sao Thầy không viết bài nào phản ứng trên Emotino hết vậy, có phải vì đang có chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nên Thầy ngưng viết? Email của một học trò độc giả Emotino ở Santa Fe, Hoa Kỳ. 15-10-2011
Đáp:
Câu hỏi thật là nhạy cảm đấy em ạ. Nhưng Thầy vẫn trả lời vì biết là nếu vắng Thầy thì chợ vẫn đông, tức là Thầy không trả lời thì vừa làm em ngạc nhiên nghĩ rằng Thầy thay đổi tính nết hết hùng dũng hiên ngang phong độ ắt tại bị vì bởi nay … ở tuổi hồi xuân chỉ biết lo ăn sầu riêng thay thế Viagra, vừa chỉ tổ giúp mấy anh chống Cộng ở bên bển có cơ hội giết thì giờ bằng cách viết linh tinh chống Cộng om sòm để đừng quên tiếng Việt trong lúc vẫn chưa nắm vững tiếng Anh trên đất nước Mỹ không có tự do ngôn luận, dấu diếm không dám nói gì trên Yahoo! News về Occupy Wall dân Mỹ chống chủ nghĩa tư bản, chỉ dám sủa nhặng lên vở hài kịch về kế hoạch Iran ám sát Đại sứ Saudi Arabia.
Em ạ, việc Ông Nguyễn Phú Trọng thăm China là việc đối ngoại bình thường, và các văn bản ký kết là những văn bản ở tầm vóc vĩ mô mang tính định hướng chiến lược bình thường cho hai quốc gia có quan hệ bình thường, còn những việc thường ngày ở huyện thì cứ diễn ra bình thường. Thầy sẽ tăng cường “giám sát” tích cực mạnh mẽ hơn để tránh việc sẽ có chức sắc địa phương do không hiểu, cứ thấy Tổng bí thư ký kết văn bản hữu nghị với Trung Quốc là tự động “hữu nghị” tha cho mấy công ty vô trách nhiệm, vô năng lực, vô tư cách, và vô…vốn liếng của Trung Quốc đang gây hại cho Việt Nam tại các dự án trọng điểm quốc gia, hay tự động “hữu nghị” tha cho mấy chục ngàn lao động phổ thông Trung Quốc chưa học phổ thông chẳng biết gì ngoài nói tiếng Phổ Thông đang lao động phổ thông không giấy phép phổ thông tại nhiều công trình rất phổ thông ở các tỉnh Việt Nam. Thế nên, mọi việc vẫn như vậy: kế sách chiến lược là việc quốc gia đại sự của lãnh đạo Đảng và Chính phủ, còn luật pháp Việt Nam là vấn đề thượng tôn của toàn dân bao gồm song không chỉ giới hạn bởi người dân, công chức, và quan chức. Việc đăng mấy bài vớ vẩn chống Việt Nam thì do bọn thất học và hèn hạ người Trung Quốc viết nên Thầy không quan tâm. Tại sao gọi chúng thất học và hèn hạ? Đơn giản vì Thầy luôn nêu tên Thầy thật đầy đủ, nêu học vị thật đầy đủ, và ghi các chi tiết liên hệ thật đầy đủ trên các phương tiện chính quy, nên tất nhiên xem thường, khinh miệt bọn thất học núp sau nickname viết cho ruồi nhặng bâu. Nhưng thiết nghĩ Thầy nên nói như sau để các em yên tâm rằng bọn thất học hèn hạ chống Việt Nam bằng mồm thì muôn đời vô dụng. Giả như Thầy đột nhiên xem bọn thất học hèn hạ ấy là …người và đột nhiên muốn hạ mình (do có tính khiêm tốn) mắng chúng thì Thầy sẽ có các ý như sau:
Thầy luôn khuyên các em bằng câu nói tuyệt vời của Lenin: Phải học, phải học thêm, học thêm mãi. Bọn nhãi ranh Tàu viết ba cái vớ vẩn ấy là bọn lưỡi bò thất học, dốt nát, ngu si, đần độn, nên những gì chúng vẽ ra chẳng khác cái lưỡi bò khiến Thầy nhớ đến tựa đề một tác phẩm lừng danh của Jean-Paul Sartre (tức quyển La Nausée tức… Buồn Nôn). Nghe em nói, Thầy chả biết thực hư, nhưng cũng không tò mò phí thời giờ kiếm tìm trên mạng để đọc làm gì. Tuy nhiên, chỉ nghe nội dung tựa đề của chúng là Thầy đã có ngay kế sách mang tên Operation 365 nhưng không phải là 365 ngày vì như thế là quá nhiều đối với 31 ngày của chúng. Chiến Dịch 365 là kế hoạch quân sự làm cỏ Trung Quốc trong vòng 3 ngày, cắt Trung Quốc thành 6 phần lãnh thổ chia cho 5 nước của liên minh quân sự Ngũ Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh. Thầy đủ khôn ngoan hơn bọn Tàu Bò để không viết ra Operation 365 tiết lộ hết kế sách cho bọn chúng. Nói tóm lại, em đừng lo lắng, đừng nổi xung, đừng tức giận, vì phụ nữ như em mà tức giận ắt tốn tiền mua kem trị mụn; với lại giống bò cho ta nhiều thứ lắm, từ sữa để uống, thịt để ăn, da để làm giày, và … khô bò cùng thịt bò viên ăn hủ tíu ngon lắm em ạ, duy có lưỡi bò thì Thầy chưa biết dùng làm món gì, có lẽ dành chế biến làm thức ăn cho chó vậy. Thầy giáo Sử ký Võ Nguyên Giáp đã làm việc kinh thiên động địa đánh tan nát các tướng lĩnh ưu tú của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dìm họ xuống bùn nhơ khiến Pháp mất sạch sành sanh các thuộc địa còn Mỹ bị lờn mặt trên toàn thế giới và thất bại triền miên triền miếc trên mọi lĩnh vực cho đến tận ngày nay; lẽ nào thầy giáo Anh văn Hoàng Hữu Phước của các em lại không viết nổi một kế hoạch đơn giản xé toang tấm dư đồ Trung Quốc Bò Trung Quốc Biếc hay sao. Thầy chỉ lo Biển Đông ô nhiễm nặng vì mới đánh Việt Nam ngày thứ ba trong chuỗi 31 ngày của chúng là quốc gia của chúng đã hết tồn tại rồi, nên chúng phải đành thây trôi chật biển, xác chất chồng nặng dìm hải đảo chìm xuống dưới mặt nước biển (do không ai ở ASEAN cho quái thú lưỡi bò được tỵ nạn chính trị cả) khiến ngành xuất khẩu hải sản của ta tiêu điều suốt nhiều năm nhiều tháng.
Thi sĩ Mộng Tích Trần Duy Uyên ắt đã có tài tiên tri thấu thị, biết thế nào cũng có ngày con cháu Việt Nam nộ khí xung thiên vì bọn Tàu, nên có để lại bài thơ nhằm trấn an, giảm stress, tạo không khí thư giản rằng:
Nào có ra chi lũ hát tuồng
Cũng hò cũng hét cũng y uông
Và Thầy cứ theo vần điệu của Trần thi sĩ mà … update tức cập nhật hóa thành bài thơ Đường Luật thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng như sau, nhờ em giúp phổ biến bên ấy nhé, cứ lấy tên Thầy hay bút hiệu ngày xưa của Thầy là An Thiện Bảo Giang hay Hải Thoại Lăng Tần hoặc … Tannhauser Beowulf Thor đều được:
Nào có ra chi lũ Tàu cuồng
Lưỡi bò lè liếm c… chim muông (1)
Võ công bá láp toàn pháo đại
Hùng anh một đám đứng cởi truồng (2)
Giẻ rách Thi Lang khoe cẩm tú (3)
Đắp che mình thú cột trong chuồng
Hóa ra ai cũng nguồn sinh vật
Việt: rồng; còn Trung: kiếp thuồng luông (4)
Ghi chú:
(1) Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nổi tiếng có đầy phân chim làm nguồn phân bón cực tốt (người Tàu có dùng phân làm thuốc trị bá bịnh cho Vua Tàu), nên lưỡi bò liếm đảo ắt phải nuốt thứ đó trước tiên. Đúng là hậu duệ trung thành của Câu Tiển. Ô hô ô hô.
(2) Vất khố tồng ngồng khoe thứ dơ bẩn hôi thối kinh tởm y thứ của mấy con bò nghìn năm không tắm rửa kỳ cọ, đã vậy còn đong đưa như cọng bún ỉu xìu trước gió Lào, làm nữ binh của Bà Triệu ngạt thở phải nhảy xuống sông tuẫn tiết bảo vệ đôi mắt ngọc trinh nguyên. Giặc Tàu dơ bẩn thay dơ bẩn thay.
(3) Hàng không mẫu hạm Thi Lang như miếng giẻ rách bươm mà khoe là gấm vóc. Đáng thương thay đáng thương thay.
(4) Tức là …thuồng luồng (viết thành…thuồng luông cho…hợp với cách gieo vận của bài thơ tếu) là loại quái thú mình đầy gai và vẩy lấp lánh lân tinh, mõm ngoác rộng đỏ lòm xông mùi hôi thối nồng nặc sống chui nhủi trong hang chốn đầm lầy; còn rồng bay nhảy ở trên mây. Tuy mình mẩy dài ngoằng to lớn giống nhau mà lại khác xa đẳng cấp một trời một vực vậy. Lành thay lành thay.
Vậy em đã rõ là Thầy nào có xem ra gì lũ cũng hò cũng hét cũng i-uông.
Chúc em vượt qua khổ nạn làm công dân Mỹ nhé, và hãy khôn ngoan để người Mỹ gốc Mỹ chống chủ nghĩa tư bản với phong trào Occupy Wall đang lan trùm nước Mỹ, đừng có dại dột tham gia biểu tình kẻo bị chụp mũ theo đấu tranh giai cấp Mác-Lê nin thì khổ vì em thuộc diên “mới qua”, ắt không được “cộng đồng thuyền nhân” cho phép…lên thuyền. Có lẽ ngày nào đó sẽ có nước Mỹ Cộng Sản đối đầu với Trung Quốc Cộng Sản, và lúc đó người Việt sẽ đỡ nhức đầu vì blogs Trung Quốc sẽ xuất hiện bài viết “Trung Quốc sẽ thôn tính Hoa Kỳ trong vòng 28 ngày” (của tháng Hai để tiết kiệm được 3 ngày vàng ngọc).
Thư bất tận ngôn,
Thân mến.
2) Hỏi: Anh có ghét người Hoa không? Một cử tri độc giả Emotino ở Quận 5, Tp HCM. 16-10-2011
Đáp:
Tất cả những người Hoa ưu tú đều đã bỏ Trung Quốc ra đi sạch sành sanh, trong đó có một số đông đặc biệt là họ Mạc Cửu tìm sang Việt Nam lánh nạn và lập nghiệp tại Hà Tiên, trở thành những công dân ưu tú thần phục vương triều hoàng tộc nước Việt với Tao Đàn Chiêu Anh Các lừng danh của Mạc Thiên Tứ và Trần Trí Khải gồm 25 nhà thơ người Hoa nhập tịch và 6 danh sĩ Việt bản xứ, phát triển kinh tế toàn vùng, đem sự trù phú và an ninh trật tự, văn hóa cao của nhân-nghĩa-lễ-trí-tín đến khắp miền sông nước, thượng tôn luật pháp, một lòng trung thành son sắt với hoàng gia nước Việt, bảo vệ bờ cõi đất phương Nam trước các đoàn quân xâm lược từ phía Tây Nam và Nam Tây Nam, v.v., khiến bao bậc hào kiệt tài đức vẹn toàn triều Nhà Thanh nghe tiếng đất lành thiên đường hạ giới môi trường tuyệt diệu của tự do, cùng nhau bỏ nước Tàu ra đi vượt sóng dữ trùng dương ác hiểm để tề tựu nơi trấn Hà Tiên xin nguyện làm con dân nước Việt chung sống với cộng đồng người Việt bản địa đôn hậu, thuần phác, rộng lượng, khoái ăn nhậu và cũng lắm anh tài. Như vậy những người Việt gốc Hoa là những công dân Việt Nam, không dính dáng gì đến Trung Quốc, nên những phản pháo trước các hành vi côn đồ đốn mạt của Trung Quốc là đáp ứng đúng tâm tư tình cảm của người dân Việt – trong đó có cộng đồng ưu tú người Việt gốc Hoa, những người chắc chắn nguyền rủa cái lưỡi bò thậm tệ bằng hai thứ tiếng Việt và Hoa.
Xin nói thêm là tôi có một Ông Ngoại người Việt gốc Hoa và dù Ông là dưỡng phụ của mẹ chúng tôi, Ông được toàn gia đình chúng tôi kính yêu, tự hào và xây mộ phần của Ông (đến độ chúng tôi quên mất còn có mộ Ông Ngoại ruột người Việt gốc Việt tại Cà Mau) cạnh mộ Bà Ngoại ở Trà Ôn, Vĩnh Long, để toàn đại gia đình hàng năm đi viếng ít nhất ba lần. Ngoài ra, Ba tôi lúc sinh tiền trước 1975 ở Sài Gòn chỉ thích “mần ăn” với người Việt gốc Hoa, còn trong số những bạn gái thân thương của tôi thời trung học và đại học có bốn cô người Việt gốc Hoa xinh đẹp nết na giỏi kinh doanh mà những trang tình sử với họ thuộc những trang đẹp nhất.
Tôi không ghét người dân Trung Quốc nào còn biết nói tiếng người. Tôi chỉ ghét bỏ và khinh miệt hai hạng ngu dân lúc nào mồm cũng nhểu nước dãi hám hôi ghiếc gớm là (a) bọn bò điên Trung Quốc lè lưỡi liếm láp Biển Đông và (b) lũ chó dại Trung Quốc sủa ăng ẳng hù dọa nước Nam ta.
Bức thư ngắn không tiện trãi hết tấm lòng,
Trân trọng.
Các bài tham khảo thêm:
1) Hoàng Hữu Phước. 02/9/2011. Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán Việt. http://www.emotino.com/bai-viet/19263/trung-quoc-va-chung-ta-su-can-thiet-phai-viet-lai-ngon-tu-hanviet
2) Hoàng Hữu Phước. 08-9-2011. Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê. http://www.emotino.com/bai-viet/19274/trung-quoc-va-chung-ta-nhung-chuan-bi-nhieu-khe
3) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh
4) Hoàng Hữu Phước. 03-7-2011. Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo
5) Hoàng Hữu Phước. 01-7-2011. Chữ U Với Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo
6) Hoàng Hữu Phước. 26/6/2011. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai
7) Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta
Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975
9) Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
Nhắn tin: 0988898399
Email: hhphuoc@yahoo.com
Blog cá nhân: http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com
Web cơ quan: www.myabiz.biz
12 Sep 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc, MIB
Có một định nghĩa mang tính chân lý từ muôn đời nay mà từ kẻ thất phu đến bậc thức giả hàn lâm, từ bậc hiền nhân quân tử đến kẻ tham quan ô lại, từ nhà buôn chân chính đến doanh nhân làm giàu bằng cách ác nhân thất đức tàn phá môi sinh, từ bậc đạo đức tu hành chánh đạo đến phường hổ mang lưu manh khoác áo cà sa hay áo chùng thâm, đều biết rõ mười mươi rằng Việt Nam là mồ chôn tất cả các đoàn quân xâm lược bất kể chúng đến từ đâu (ngoại trừ … aliens tức sinh vật ngoài hành tinh vốn chỉ bị tiêu diệt duy bởi các vũ khí thần thông Mỹ … made-in-Hollywood bất kể chúng đến từ thiên hà nào). Đất Việt đã luôn là mồ chôn bộ binh, kỵ binh, tượng binh, thiết giáp binh, pháo binh giặc xâm lược. Trời Việt đã luôn là mồ chôn không quân giặc xâm lược. Sông Việt đã luôn là mồ chôn thủy binh giặc xâm lược (chưa kể… Rừng Việt đã luôn là mồ chôn biệt kích giặc xâm lược và Hang Việt – mà điển hình là Hang Pắc Pó – đã luôn là mồ chôn … đê tiện quân giặc xâm lược). Và đương nhiên đến lượt Biển Việt sẽ nối gót để luôn là mồ chôn hải quân giặc xâm lược.
Đã là chân lý thì đương nhiên đúng, phải đúng, đúng một-cách-biết-làm-thế-nào-được, vì ngay cả Albert Einstein cũng phải sử dụng số học 2+2=4 trong các tính toán kinh thiên động địa không dính dáng đến số học của Ông. Mà đã đương nhiên đúng thì Biển Đông sẽ là mồ chôn của hàng không mẫu hạm của Trung Quốc và tất cả các chiến hạm cùng tàu ngầm của Trung Quốc, bất kể do chúng tự động chìm vì lớp sơn mới không bít được các lổ mọt rỉ sét mà độ mặn căm thù của Biển Đông tàn phá nhanh chóng gọn gàng thứ kim loại biến thái với hàng không mẫu hạm của Trung Quốc là điển hình, bất kể do tổ tiên Việt Nam sau khi thấy lời răn dạy phải luôn dĩ hòa vi quý tránh voi đâu hổ mặt nào được con cháu áp dụng nhuần nhuyễn hơn 4000 năm vẫn không phát huy tác dụng với con cháu bọn cướp cạn Lương Sơn Bạc nên nóng mặt hung hăng hùng hổ vất bỏ dáng nhu mì từ trời cao giáng sấm sét bão tố đánh chìm chiến hạm giặc Tàu khiến thây nổi đầy mặt biển vướng chân vịt làm hỏng vô số tàu buôn, bất kể do bị các cao thủ võ lâm Hồi Giáo các nước trong khu vực ASEAN đánh chìm sau khi thọ giáo các tuyệt chiêu kinh nghiệm từ hảo hán người Sudan của lực lượng al-Qaeda dưới quyền Osama Bin Laden đã từng làm chiến hạm USS Cole của Hải Quân Hoa Kỳ thủng một lổ bự chà bá khi neo đậu tại Cảng Yemeni thành phố Aden nước Yemen lúc 11 giờ 18 phút 14 giây sáng ngày 10 tháng 12 năm 2000 gây thương vong cho 56 binh sĩ Mỹ chỉ với 250kg thuốc nổ, hay bất kể do chính các chiến sĩ hải quân tinh nhuệ của Trung Quốc thao tác sai khi thiết bị có chữ Nga và chữ Anh hay chữ Pháp được dán chữ Tàu đè lên nhưng bị sút rớt do keo dỏm made-in-China làm nhấn nút lộn phá tanh banh mẫu hạm còn tàu ngầm bị mỹ nhân ngư gốc Việt dụ lũi vô kẹt cứng như Mạnh Hoạch bị dính chấu giữa hai mỏm đá đáy biển sâu do tưởng bở hai bắp đùi nõn nà người ngọc, v.v. và v.v.
Mà các sự cố trên xảy ra – cách chi mà không xảy ra cơ chứ – thì cứ tưởng tượng tàu Trung Quốc đổ xô đến Biển Đông cứu nạn, tàu Mỹ đổ xô đến vớt khí tài quân sự cùng máy bay tàng hình Tàu để xem kỹ thuật tiến bộ đến đâu, tàu Nga đổ xô đến nghiên cứu xác hàng không mẫu hạm để rút kinh nghiệm chế vỏ tàu chống muối Biển Đông, tàu các nước ASEAN mạnh ai đổ xô đến vì những mục đích khác nhau, còn ghe thuyền thúng mủng Việt Nam đổ xô ra vì vẫn mang nặng khí tiết đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo rồi vì nghĩa tử là nghĩa tận mà bắt chước tiền nhân vớt xác quân thù lên bờ lập đền thờ cúng tế ngàn năm không dứt khói hương, thật là tán loạn tự do thì còn gì là uy quyền quốc gia! Thế nên, thay vì đợi nước đến đầu gối mới nhảy, Việt Nam nên có sẵn các quy định mang tính luật pháp, chẳng hạn rằng bất kỳ tàu nào xâm lấn vùng lãnh hải của Việt Nam mà gặp nạn chìm – bất kể do trời đánh hay người đánh – thì thuộc quyền sở hữu của Việt Nam như pháo đài bay B-52 và oanh tạc cơ F của Mỹ bị rơi ở Miền Bắc Việt Nam trở thành tài sản của Việt Nam muốn trưng bảo tàng hay xẻ thịt làm lược chải đầu hoặc bán ve chai thì cứ tự tiện, rằng các nước có liên quan hay không có liên quan muốn vào nghiên cứu chụp hình phải đóng phí cho Việt Nam và trả tiền cho Việt Nam nếu muốn trục vớt mua lại xác tàu, rằng mọi dịch vụ phải hợp đồng sử dụng lao động Việt Nam, rằng các chính quyền các địa phương ven biển không cho dân lập đền thờ như xưa kia tổ tiên Việt đã thờ mấy tướng Tàu xâm lược nước ta bị chém bay đầu vì địa ốc ngày nay không còn dư dả gì nhiều để phí phạm vô bổ như thế do đã có quá nhiều resort ven bờ biển, v.v. Đồng thời, Việt Nam nên phát triển lực lượng cứu hộ biển, lực lượng khắc phục sự cố tràn dầu mặt biển do tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng khắc phục hậu quả phóng xạ do vũ khí rò rỉ dưới đáy biển từ tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng thu giữ khí tài quân sự từ đáy biển, lực lượng cảnh sát giao thông biển để giữ trật tự biển sau khi hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm làm vô số tàu buôn và tàu container bị vướng chân vịt không cục cựa gì được như đã nêu trên, lực lượng tuyên truyền thuyết phục các nước khách hàng đừng sợ cá biển Việt Nam xuất khẩu nhiểm độc tàu Tàu, và lực lượng đoàn tàu du lịch hạng sang để làm dịch vụ đưa đón hàng vạn người Trung Quốc hàng năm đến Biển Đông khu vực Trường Sa thả vòng hoa và thức ăn cúng tế hồn tử sĩ Tàu.
Thêm vào đó, còn phải tính đến trường hợp hàng không mẫu hạm Trung Quốc không bị trời đánh hay người đánh chìm nhưng lại giương cờ trắng đầu hàng Việt Nam, xin tỵ nạn chính trị tại Việt Nam, do rất nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cầu mong Trung Quốc xua hải quân đánh Việt Nam để ngay khi hải quân Trung Quốc tiến vào Biển Đông họ sẽ đồng loạt nổi loạn khắp nơi tấn công Bắc Kinh, tiêu diệt lực lượng quân đội ít oi còn lại để xé toang nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành ít nhất năm quốc gia mới, khiến đoàn quân viễn chinh Tàu xâm lược không chốn dung thân trên chính chiếc lưỡi bò. Vì vậy, Việt Nam phải quy định ra sao đối với tình huống tỵ nạn chính trị chưa có tiền lệ này, có chấp nhận cưu mang cho nhập quốc tịch những ngàn người Mác-xít Mao-ít bất hạnh đã từng có vinh hạnh duy nhất trong đời là làm cháu chắt chít chụt chịt của Ông Cố Tổ Trọng Thủy xưa kia từng được nằm chung giường với Bà Mỵ Châu chăng, hay học cách tiền nhân ban áo quần lành lặn và lương khô (còn trong hạn sử dụng) cho đoàn xe Hyundai (50 chỗ có máy lạnh) đưa đến tận biên giới Việt-Trung trao trả họ cho những chính phủ cầm quyền mới ở bển để bên ấy long trọng đón về tùng xẻo lấy thịt nấu bánh bao như bọn mọi Thủy Hử xưa kia, v.v. và v.v.
Vô số những vấn đề mà nếu áp dụng Xác Xuất Học sẽ thấy không phải không có khả năng xảy ra, khiến Việt Nam không thể không quan tâm đến, và không thể không sớm đề ra đầy đủ.
Chỉ vì cái đại ngu và đại điên của đại gia Trung Quốc mà Việt Nam ta phải tốn tiền lo tổ chức đủ thứ, e rằng GDP nước nhà lại bị tác động khó nhích lên cho sớm xứng mặt siêu cường trong thiên hạ, do các khoản thu từ dịch vụ du lịch Biển Đông thời hậu mẫu hạm khó đủ bù chi.
Các bài viết khác về Trung Quốc:
1) Hoàng Hữu Phước. 02-9-2011. Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Đổi Ngôn Từ Hán Việt. http://www.emotino.com/bai-viet/19263/trung-quoc-va-chung-ta-su-can-thiet-phai-viet-lai-ngon-tu-hanviet
2) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh
3) Hoàng Hữu Phước. 03-7-2011. Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo
4) Hoàng Hữu Phước. 01-7-2011. Chữ U Với Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo
5) Hoàng Hữu Phước. 26/6/2011. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai
6) Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta
7) Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975
Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
Email: hhphuoc@yahoo.com
Tin nhắn SMS: 0988898399
Blog cá nhân: http://hhphuoc.blog.com, http://antichina.blog.com
Web công ty: www.myabiz.biz
02 Sep 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc, MIB
Trong kho tàng Tiếng Việt ta, từ Hán-Việt dược dùng đáp ứng những nhu cầu sử dụng trang trọng, quý phái, hoặc tế nhị, v.v, thí dụ: hồng quân (thay vì … quân đỏ), tổng thống (thay vì…nắm giữ tất tần tật), thủy điện (thay vì điện nước), quốc lộ (thay vì đường chính chạy suốt đất nước), v.v., và chỉ bị gát qua một bên nếu ý nghĩa dễ gây nhầm lẫn (Hội Chữ Thập Đỏ, thay cho Hội Hồng Thập Tự vốn dễ nhập nhằng với Thập Tự trong Thập Tự Chinh có liên quan đến đạo Chúa).
Từ xưa, hễ liên quan đến vua thì người ta dùng chữ “long” với ý nghĩa “rồng”, linh vật tối thượng, tiêu biểu cho quyền uy tột đỉnh của muôn loài, từ đó có long nhan (mặt vua), long xa (xe của vua), long ân (ơn vua ban tặng), long trượng (gậy vua ban tặng), long thể (mình đầu tay chân của vua), long tu (râu vua), long bào (áo vua), long sàng (giường vua),v.v. Tất nhiên, long nhãn không phải là … mắt vua, và long đong không phải là bàn cân vua, long ốc không phải là … hang ổ của vua, và long não không phải là…óc vua.
Thế nhưng, chủ nhân của Tiếng Hán là Trung Quốc đã có công khai khái niệm mới, theo đó bò mới quý hơn rồng, nhất là sau khi tiếp thu văn hóa Phương Tây, biết họ xem rồng là quái vật thường bị Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần Michael đâm trường thương giết chết, còn phim ảnh Holywood tạo nên rồng nhiều đầu, hễ đứt đầu nào thì nơi ấy mọc ra hai đầu khác, trông kinh khiếp quá, nên mới chủ trương thay đổi ngôn từ, ra vẻ ta thuộc dân tộc thuần nông luôn xem trọng con bò nên mới có vụ đường lưỡi bò lấn chiếm Biển Đông.
Người Việt ta thường hay lịch sự, biết tôn trọng người, cái gì không phải của ta thì chả thèm tranh cải, học câu vật phi nghĩa bất thủ (đồ bậy bạ thì quyết không giữ lấy), nên ắt cũng nên thay đổi ngôn từ Hán-Việt của ta để từ nay khi diễn tuồng tích Tàu thì xưng hô như sau mới hợp thời đại mới của Trung Quốc, kẽo họ chê bai chúng ta quá kém tiếng Tàu:
Ngưu nhan: tức mặt bò (Tiếng Tàu gọi Ngưu chung cho trâu và bò), nghĩa là mặt vua Tàu
Ngưu thể: đầu mình chân tay bò, nghĩa là cả người vua Tàu
Ngưu xa: xe bò, nghĩa là xe chở vua Tàu
Ngưu trượng: cây roi bò, chắc để vua Tàu dùng khi cưỡi bò
Ngưu bào: áo bò (làm bằng da bò, không phải áo vải jean) của vua Tàu
Ngưu tu: râu của bò, tức râu vua Tàu
Ngưu sàng: giường của bò tức của vua Tàu
Ngưu ân: ơn do bò tức vua Tàu ban tặng
từ đó, ta sẽ được nghe các câu nói thật chuẩn, thí dụ như khi một tì nữ được vua Tàu hôn hít sẽ nói: “Kính tạ Ngưu Ân đã cho tiện nữ nhìn thấy Ngưu Nhan, được nằm kề Ngưu Thể, trên Ngưu Sàng đầy nhóc Ngưu Bào, và được biết vị mùi Ngưu…Lưỡi.”
Các bài viết khác về Trung Quốc:
1) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình. http://www.emotino.com/bai-viet/19205/trung-quoc-trong-sam-trang-trinh
2) Hoàng Hữu Phước. 03-7-2011. Gợi Ý Thay Thế Chữ U và Dấu Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19174/goi-y-thay-the-chu-u-va-dau-gach-cheo
3) Hoàng Hữu Phước. 01-7-2011. Chữ U Với Gạch Chéo. http://www.emotino.com/bai-viet/19171/chu-u-voi-gach-cheo
4) Hoàng Hữu Phước. 26/6/2011. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại. http://www.emotino.com/bai-viet/19163/trung-quoc-tu-vi-dai-den-te-hai
5) Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta
6) Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975
7) Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
hhphuoc@yahoo.com
02 Aug 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc, MIB
Có lẽ Sấm Trạng Trình là tác phẩm duy nhất thường được
- nhiều người Việt nhắc đến như một tiêu biểu đặc trưng Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong khi lẽ ra Cảm Hứng Thi, Khuê Tình, Hạ Cảnh, Vũ, và Ngụ Hứng mới là những kiệt tác đáng được đọc hơn; và
- nhiều Việt Kiều chống Cộng lạm dụng một cách mông muội để giải thích hùng hồn này nọ rồi chờ đợi mõi mòn đến bạc đầu từ kỷ này đến kỷ khác (mỗi 12 năm) sự sụp đổ của Cộng sản Việt Nam dựa trên đoạn sấm:
…Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ loạn đao binh
Mã đề Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình …
thậm chí có kẻ còn sử dụng chiêu thức vừa ăn cướp vừa la làng để tự nhận mình là “anh hùng” có ngày được Phật Vương hô biến tiêu diệt Ma Vương (tức Cộng Sản) để “anh hùng” quay về Việt Nam vẻ vang vào cái năm Thân Dậu ấy, cứ như thể buôn lậu ma túy đã đời với trò lính kiểng lính ma rồi vứt bỏ vũ khí chạy tán loạn khỏi Việt Nam nhưng vì là “Cộng Hòa” nên đương nhiên tốt đẹp và Sấm Trạng Trình phán Phật Vương sẽ vì các “anh hùng” mà làm Việt Nam sụp đổ chết như rạ để các “anh hùng” lũ lượt kéo về xây dựng đất nước làm chỗ buôn lậu ma túy tiếp vậy.
Điều tôi nhận xét về Sấm Trạng Trình là:
- Đối Với Bản In: không rõ vì sao các bản in tôi tìm thấy được đều kỳ dị, đọc như mớ hổ lốn vừa nôm vừa na vừa Hán vừa ta trong suốt 485 dòng sấm, không thể tin đó là từ thần bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoặc nếu nguyên tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự tuyệt hảo về văn chương hàn lâm thi phú thì bản dịch cho tác phẩm mang tên Sấm Trạng Trình đã hàng trăm năm nay không là công trình nghiêm túc của người dịch có học thức.

- Đối Với Người Đọc: không rõ vì sao người Việt của rất nhiều thế hệ của rất nhiều thế kỷ đều sẻ chia chung một ý nghĩ rằng những từ Hán Việt hiếm hoi trong bản dịch vừa nôm vừa na vừa Hán vừa ta là nói về các năm, như: năm Rồng (Long), năm Rắn (Xà), năm Ngựa (Mã), năm Dê (Dương), năm Khỉ (Thân), năm Gà (Dậu), v.v., để rồi bị hố liên tục, chờ tiếp chu kỳ một kỷ tức 12 năm tiếp theo, hy vọng “ngày ấy” sẽ đến.
Tôi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không “huỵch toẹt” gì cả trong những lời tiên đoán hay sấm truyền của Ông. Thí dụ rõ nhất là đối với giai thoại về “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân” tôi lại thấy nêu bật những ba điều gồm (a) câu cú cực chuẩn, văn vẻ, văn chương hàn lâm, chứ không hỗn độn như bản dịch Sấm, (b) ngụ ý xa vời để không phạm tội tiết lộ thiên cơ, và (c) không hề “bói” rằng triều đại nhà ấy chỉ cần vào ấy là tồn tại hàng vạn đời mà rõ ràng là Ông chỉ khẳng định rằng đất nước ta tồn tại muôn đời sau khi trãi rộng Nam Tiến vượt Hoành Sơn, chứ tầm cỡ như Ông không thể làm kẻ vẽ đường cho một triều đại nào cả.
Dựa vào những nhận xét trên, tôi thấy kiểu diễn giải bám vào ý sơ đẳng (dịch từng chữ một) để nói Cuối Năm Rồng, Đầu Năm Rắn Có Chiến Tranh (Long Vĩ Xà Đầu Khởi Chiến Tranh) là không sâu sắc vì tầm cỡ của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ cần dùng một trong hai, tức hoặc Long Vĩ, hoặc Xà Đầu, chứ không dùng cả hai, nếu thực sự ám chỉ năm Rồng hay năm Rắn, vì cuối năm rồng tức là…đầu năm rắn rồi, nếu dùng cả hai hóa ra “nhà thơ” bị bí từ ngữ hay sao! Ngoài ra, hầu như ai cũng diễn sai rằng “Đầu Năm Ngựa, Cuối Năm Dê” khi nói về “Mã Đề, Dương Cước” vì Đề là Móng, thì sao lại nói cứ như thể chỉ có chân trước của ngựa là có đóng móng để cho đó là “đầu năm”; và “cước” là chân, cớ sao lại cho rằng dê chỉ có chân sau để nói đến chuyện “cuối năm”?
Do đó, đoạn
…Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ loạn đao binh
Mã đề Dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình …
cần được hiểu như sau:
… Cái con quái thú đầu rắn đuôi rồng quậy phá
Khiến nơi nơi bất ổn vì phải dồn sức chống ngăn
Song, nếu ngựa mà xưng hùng xưng bá xuất chiêu đạp dê, sẽ bị dê đá bại
Dân ta cứ như chú gà nhỏ bé nhưng sẽ đường bệ gáy vang khi thấy rực sáng ánh dương
Diễn nghĩa thêm, có khi ta nghiệm được lời dặn sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:
“Hỡi con dân nước Việt, đừng sợ bất kỳ bọn siêu cường nào vỗ ngực xưng rồng (Thiên Tử) vì chúng chỉ giỏi hù dọa thôi do đuôi thì tuy giống rồng thật đấy, chứ bản mặt thì nhỏ xíu như mặt rắn nước; nếu chúng xưng hùng xưng bá tự cho mình đẹp đẽ như ngựa chiến lớn đùi to chân dài chà đạp chúng ta thì nước ta tuy nhỏ yếu như dê cũng sẽ tiêu diệt được chúng; và nước ta vẫn cứ thế: bản thân tuy nhỏ nhưng đẹp, đủ lông đủ cánh mà gáy vang vì muôn đời ánh sáng luôn chiếu rọi trên đất nước chúng ta”.
Do chỉ có Trung Quốc hay xưng mình là Thiên Tử, là rồng, nên ắt là đối tượng được ám chỉ trong Sấm Trạng Trình. Như vậy, Trung Quốc đang là con quái vật mặt rắn bẹp lưỡi dài chẻ nhánh, có đuôi mọc gai giống đuôi rồng, chẳng khác gì hàng không mẫu hạm rĩ sét Varyag được phủ bằng lớp sơn cực đẹp chứa độc tố kẽm (còn sót lại sau sự thất bại sản xuất đồ chơi búp bê bán qua Mỹ) biến thành Thi Lang, chở vài chục chiến đấu cơ tàng hình Chengdu J-20 mà khoe là sẽ cho Raptor F-22 của Mỹ và Sukhoi PAK FA T-50 của Nga ngửi khói xịt phía sau để biết thế nào là lễ độ với mùi Trung Quốc, được lái bởi bọn “giặc lái” hậu duệ bọn thảo khấu Lương Sơn Bạc chuyên gia bán bánh bao nhân thịt người (tức bọn cướp cạn lúc nào cũng tự xưng “anh hùng”), từ nhỏ được nuôi bằng sữa bột có pha melamine hiệu Sanlu. Nói tóm lại, cái con quái thú mình giun, đuôi rồng (long vĩ), đầu rắn (xà đầu) có tên Trung Quốc nếu tấn công Việt Nam (hình cong chữ S giống mình chú gà ngồi nghểnh cổ – tức là mình gà, còn gọi là thân gà, nếu toàn Hán Việt thành … Thân Dậu) sẽ bị Việt Nam đánh cho đại bại, hết kiếp xưng bá (bá chủ Biển Đông) xưng hùng (Anh Hùng…Xạ Điêu).
Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, nói: “Nếu chiến tranh xảy ra, không bên nào chiến thắng.” Đó là ngôn phong vị tướng lĩnh làm công tác đối ngoại lịch lãm với báo giới.
Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trình Tuyền Hầu nhà Mạc, để lại cho con dân anh dũng của nước Việt hào hùng một lời trấn an, đúng mực bậc tài hoa “thiên cơ bất khả lậu” gởi gắm trong câu sấm một khẳng định tuyệt vời: Nếu chiến tranh xảy ra, chỉ có Việt Nam chiến thắng. Đó là ngôn phong nhà giáo thiên tài nho nhã đối nội lịch lãm với hậu thế.
Công dân Hoàng Hữu Phước do tin rằng mình nghiệm ra và giải mã được lời trấn an của Trạng, nên trong đêm khuya thanh vắng ở Thủ Đô nghe tiếng gió rít mưa sa của cơn bão số 3, viết rằng: Mã đề dương cước anh hùng tận = Ngựa mà đạp Dê sẽ bị Dê đá trả khiến“anh hùng Lương Sơn Bạc”bị diệt vong = China Delenda Est = Sinās Delenda Est = Trung Quốc Phải Bị Tiêu Diệt! Đó là ngôn phong người học trò bình dân mon men văn luyện võ ôn, tập tành ráp nối dăm ba chữ Latinh và Hán Việt sơ đẳng khi đối thoại với trần nhà. (Kính mong các tu sĩ chủng viện và các bậc túc nho rộng lòng chỉ giáo.)
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
www.myabiz.biz
27 Jun 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
(From the Greatest to the Worst)
Hoang Huu Phuoc, MIB
27-6-2011
A) Từ Vĩ Đại
Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:
1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.
2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong
a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;
b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và
c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.
3- Do cực giỏi …tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.
Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.
B) Đến Tệ Hại
Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?
1- Bần Cùng Vô Sĩ
Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút ký hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?
2- Bất Ổn Vô Trí
Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.
3- Bất Hiếu Vô Tri
Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi” (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên), vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.
“Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh “Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.
Delenda China est!
Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế
www.myabiz.biz
Cùng Chủ Đề:
Hoàng Hữu Phước. 09/6/2011. Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta. http://www.emotino.com/bai-viet/19148/trung-quoc-ngong-cuong-va-hanh-dong-cua-chung-ta
Hoàng Hữu Phước. 30/5/2011. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy. http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975
Hoàng Hữu Phước. 22/7/2010. Trăm Trứng – Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu
27 Jun 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoang Huu Phuoc, MIB

Nét Đẹp 1: Thần Uy Tiên Phát Chế Nhân
Sau khi nhận được tin tình báo và phản gián về việc Nhà Tống có những động thái tập trung quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc cho kế hoạch xâm lược nước Nam, Lý Thường Kiệt trở thành vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam dùng kế “đem đại binh đánh trước để chặn thế mạnh của giặc” chủ động tấn công “thiên triều”, đè bẹp ý chí xâm lược và phá tan uy danh cùng lực lượng quân sự của nhà Tống.
Nét Đẹp 2: Thần Uy Phạt Tống Lộ Bố Văn
Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam dương oai diệu võ sử dụng cung cách tất cả các hoàng đế “thiên triều” luôn áp dụng mỗi khi xua quân tràn qua biên giới các tiểu quốc lân bang trong các cuộc Chinh Tây, Tảo Bắc, Bình Nam, Chinh Đông: phát hịch văn bố cáo thị uy thiên hạ các tiểu quốc. Bài hịch văn bố cáo Phạt Tống Lộ Bố Văn phát đi trước đến các vùng lãnh thổ nước Tống như thể Tống là xứ sở man di và Việt vâng mệnh Trời thuận thiên hành đạo ra tay cứu dân Tống, có nội dung phán dạy của đấng bề trên trưởng thượng đầy ngạo mạn như sau:

Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Lý Thường Kiệt khởi đại binh tấn công vào đất Tống, thực hiện đại cuộc kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng, thấy điều nghĩa hiệp mà không làm thì sao đáng gọi là trang vũ dũng, chứng kiến cảnh dân Tống lầm than mà không ra tay cứu độ thì sao đáng gọi đấng anh hùng. Dân Tống đọc bố cáo bao xiết vui mừng, bày bàn hương án quỳ phục lạy hai bên đường, dâng tặng quân lương, cung cấp đầy đủ thông tin các trận tuyến, đón chào quân đại nghĩa.
Nét Đẹp 3: Thần Uy Viễn Chinh Phạt Tống
Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam làm vẻ vang rạng ngời danh tiếng hải quân. Khi đưa hạm đội thủy binh từ Móng Cái đến chiếm Khâm Châu ngày 30/12/1075, Lý Thường Kiệt không phải tốn đến một mũi tên hòn đạn do hiệu quả tuyệt diệu của tổ chức tình báo và phản gián làm quân Tống khiếp đảm đầu hàng, còn toàn bộ tướng lĩnh trấn thủ Khâm Châu đều bị Lý Thường Kiệt bắt sống tại bàn yến tiệc rồi sai quân đem ra xử trảm bêu đầu thị chúng, khai mào cho chiến công bức hạ Liêm Châu chỉ sau đó 3 ngày giết sạch các văn quan võ tướng trấn nhậm Liêm Châu, với sự phối hợp của lục quân trước đó đã làm cỏ tất cả các thành trì, doanh trại Tống quân trên đường tràn sang Phạt Tống. Sau hai tuần bình định vỗ an bá tánh, bắt vạn tù binh vận chuyển tất cả kho tàng chiếm được về nước Việt, Lý Thường Kiệt đưa quân từ Khâm Châu tiến sang tấn công vây hãm Ung Châu, trong khi đạo quân đã triệt hạ Liêm Châu tiến chiếm Bạch Châu chặn đường vận lương tiếp viện của quân Tống. Dù thành trì Ung Châu cực kỳ kiên cố và nhà Tống tập trung toàn lực cứu viện, Lý Thường Kiệt vẫn lấy thủ cấp Tống Tướng Trương Thủ Tiết cùng các đại tướng khác của đoàn quân tiếp cứu như lấy đồ trong túi, và chiếm Ung Châu sau 42 ngày đêm đã viện công đồn. Lý Thường Kiệt bắt tù hàng binh phá tan Ung Châu, san thành bình địa để lấy đá lấp sông chặn thủy lộ, xóa sổ vĩnh viễn một di tích lịch sử trên bản đồ của nhà Tống khiến muôn đời không thể lưu truyền hậu thế. Thừa thắng, Lý Thường Kiệt xua quân khí thế ào ạt đánh chiếm Tân Châu. Quan quân nhà Tống nghe tin vội bỏ thành đào thoát. Quân Nam tiến quân vũ bảo như vào chỗ không người, chiếm đóng cả vùng lãnh thổ mênh mông.
Cuộc hành quân thần tốc của Lý Thường Kiệt nhằm đánh phủ đầu vào đất Tống đại thắng. Lý Thường Kiệt đường bệ rút quân, đem theo vô số tù hàng binh bắt được từ Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu giải về nước Việt cho vào làm phu khai khẩn vùng đất ngày nay là Thanh – Nghệ.
Nét Đẹp 4: Thần Uy Nam Quốc Sơn Hà
Lý Thường Kiệt là vị tướng lĩnh đầu tiên và duy nhất của toàn bộ lịch sử Việt Nam có khả năng lập phòng tuyến chiến lược chặn đứng đoàn quân viễn chinh xâm lược hùng hậu của Nhà Tống chỉ sau 5 tháng kể từ khi ca khúc khải hoàn từ cuộc viễn chinh Phạt Tống. Phòng tuyến Sông Như Nguyệt đã giam chân đại binh báo thù của Tống, làm tiêu hao lực lượng quân Tống đến nỗi khi mừng rỡ nghe lời ngỏ ý giảng hòa do Lý Thường Kiệt ra ân ban tặng, tướng Tống là Quách Quỳ vội vã nhận ngay và cho rút quân về Tống, kiểm điểm thống kê thấy chỉ sau 8 tháng tấn công nước Việt, 300.000 quân sĩ thiện chiến cùng dân phu được đưa sang đánh Việt nay chỉ còn lại 23.400 thương binh lên đường về nước, 100.000 chiến mã chỉ còn 3.174 con lão nhược, hao tổn ngân khố hết 5.190.000 lượng vàng ròng.
Cũng như thần uy của Phạt Tống Lộ Bố Văn đã khiến Nhà Tống đại bại trên đất Tống, thần uy của Nam Quốc Sơn Hà khiến Nhà Tống đại bại trên đất Việt:

Tất cả 4 nét đẹp trên đã tạo nên bức họa đồ tuyệt diệu của đất nước Việt Nam độc lập kiêu hùng.

Bức Ảnh Đẹp 1: Thần Uy Cùng Lúc Đánh Đuổi Quân Đội Hoa Kỳ Vĩnh Viễn Ra Khỏi Việt Nam Với Sự Độ Lượng Ban Ân Thời Gian Di Tản Không Vận, Và Xóa Sổ Vĩnh Viễn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Những chiến binh tươi tắn hân hoan, lực lưỡng oai phong, lẫm liệt tự hào, hướng dẫn hàng binh đến điểm tập kết trong ngày chiến thắng.
Bức Ảnh Đẹp 2: Thần Uy Hòa Bình – Thống Nhất – Độc Lập

Những chiến binh chiến thắng rời tháp pháo chiến xa, tươi tắn thư sinh, bình dị quân phục dạo phố phường ngày hòa bình đầu tiên của Việt Nam thống nhất.
Bốn nét đẹp cùng hai bức ảnh đẹp đã nói lên tất cả:
.
Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế
098-8898-399
www.myabiz.biz
(bài viết đăng ngày 30-5-2011 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19138/900-nam-hung-khi-than-uy-30121075-3041975 )
Nguồn tham khảo từ Wikipedia, với ghi chú trích dẫn từ:
Đại Việt Sử Lược
Hoàng Xuân Hãn. 1996. Lý Thường Kiệt, Lịch Sử Ngoại Giao và Tông Giáo Triều Lý. NXB Hà Nội
Lý Tế Xuyên. 1960. Việt Điện U Linh. NXB Văn Hóa. Hà Nội.
Phạm Hồng Sơn. 1990. Nghệ Thuật Đánh Giặc Giữ Nước Của Dân Tộc Việt Nam.
Phạt Tống Lộ Bố Văn. Bản dịch của Trần Văn Giáp. Thơ Văn Lý Trần – Tập 1
Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược
Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam. 2003. Lịch Sử Quân Sự Việt Nam. NXB Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội
27 Jun 2011
hoanghuuphuocPosted under Writings in Vietnamese
Hoàng Hữu Phước, MIB
Có lần tôi nghe vài bạn trẻ “thuần Việt” tụ năm tụ ba tại một quán cà phê nói chuyện. Gọi là “thuần Việt” vì những đặc trưng không thể lẫn lộn cầu âu với các giống dân khác là: đầu tóc bắt chước style Hàn Quốc, handphone hàng hiệu cùng laptop cao cấp bày chật mặt bàn, thích nhơi đi nhơi lại những lẩm ca lẩm cẩm mà thiểu số chống Cộng hay khạc ra, và chê bai tất cả những gì của Việt Nam, kể cả lịch sử giống nòi của chính mình, đặc biệt khi cà khịa về tích Mẹ Tiên Âu Cơ lấy Cha Rồng Lạc Long Quân sinh ra trăm trứng nở ra trăm con, rồi chia tay mỗi người một ngả, dẫn theo 50 đứa con như sự chia rẽ sâu sắc, mất đoàn kết nghiêm trọng, và thích “chơi ăn gian” (Cha dành đi về vùng đồng bằng cho sung sướng kiếp Dân Kinh, đẩy Mẹ lên chốn núi non hiểm trở gian nguy thành Người Thượng) ngay từ khởi thủy của nòi giống Tiên Rồng.
Ở đây sẽ không lạm bàn về nội dung cố tình muốn xúc xiểm có ác ý hay vô tình từ văn hóa thấp của những người nói động đến nguồn gốc tổ tiên Việt, nhưng không thể không đưa ra vấn đề ghi lại lịch sử theo chiều hướng cách tân và logic. Lịch sử không là tôn giáo nên không thể kêu gọi một thứ đức tin mà bất kỳ sự nói nghịch lại đều mang tội báng bổ tày đình. Tôn giáo pháp đình đưa bao người lên giàn hỏa hoặc xử tử bằng hình phạt khét tiếng man rợ “đóng nõ đít” tức đóng ngập súc cây tròn vuốt nhọn vào hậu môn kẻ bị kết tội báng bổ thượng đế và kinh thánh, và chỉ có đức tin mới làm cho người theo đạo không bao giờ dám đặt câu hỏi: nếu thượng đế ban đầu chỉ tạo ra mỗi một nam và một nữ sẽ không bao giờ có nhân loại ngày nay vì con cái của hai người ấy phạm tội loạn luân nếu lấy nhau rồi sinh con đẻ cái, và phản khoa học vì sự phối hợp đồng huyết thống ấy sẽ chỉ sinh ra những trẻ em bị chứng loãng máu èo uột không thể sống còn. Nhưng lịch sử thì khác, nhất thiết phải được chỉnh sửa hoặc lý giải theo cách đã loại bỏ các nội dung mà tư duy duy lý ngày nay không thể chấp nhận được.
Vốn tôn trọng hậu duệ, tôi đã từng giải thích cho con tôi truyền thuyết Việt Nam theo một logic mới, gia tăng sự tự hào nơi con trẻ, đồng thời triệt tiêu các mầm mống nhen nhúm trong tư duy những ý nghĩ tiêu cực đối với tổ tiên dân tộc. Nội dung cách tân của tôi về truyền thuyết cổ như sau:
Mẹ Việt Nam là Âu Cơ hiền thục xinh đẹp như Tiên, còn Cha Việt Nam là Lạc Long Quân dũng mãnh sức vóc bệ vệ uy nghi như Rồng. Thủa xa xưa khi thế gian này còn trong lành tuyệt đối, chưa bị ô nhiễm đe dọa, tổ tiên ta mạnh khỏe, lập gia đình từ rất sớm, sống hạnh phúc, có thật nhiều con, và tất nhiên có những năm Mẹ Âu Cơ sinh đôi, sinh năm, sinh mười, và điều đúng với khoa học là nếu người đàn ông không bia rượu, thuốc lá cà phê, chơi bời trác táng yến tiệc thâu đêm, thì khả năng sinh con trai là rất lớn, nên hai ông bà đã có với nhau đến 100 đứa con trai là chuyện bình thường. Thế nhưng hiểm họa muôn đời đối với người Việt luôn đến từ bọn giặc Tàu phương Bắc, mà tổ tiên người Việt phải không được mất cảnh giác để còn bảo vệ và lưu truyền dòng giống Việt cho đến tận mai sau, nên chờ đến khi những đứa con út cứng cáp, Âu Cơ và Lạc Long Quân thực hiện kế hoạch vạn lý trường di vĩ đại đã bàn từ trước: buộc phải rơi nước mắt bịn rịn chia tay. Âu Cơ tình nguyện hy sinh cùng 50 người con trai trưởng khéo léo bám trụ chốn núi thẳm rừng sâu, nếm mật nằm gai, quán xuyến hậu cần, lo tạo quân nhu, chế tạo cung nõ, dựng vợ cho 50 dũng tướng, điều động hàng trăm con dâu chăm sóc cháu con, gia tăng dân số, hình thành các bộ tộc hùng cứ núi non, đánh chặn bước chân xâm lược của tổ tiên Trung Quốc, sáng tạo binh pháp (mà sau này Tôn Tử của Trung Quốc với kinh nghiệm thất bại của tiền nhân cũng buộc phải học tập mô phỏng theo mà cóp nhặt ghi vào sách dụng binh lưu truyền hậu thế, và Đại tướng Võ Nguyên Giáp áp dụng tiêu diệt quân đội viễn chinh Pháp) : chiếm cứ vùng cao tập kích tấn công giặc dưới vùng trũng thấp, và đã thành công. Trong khi đó, Cha Lạc Long Quân sức vóc mạnh mẽ, trí tuệ tài cao, uy dũng hơn Rồng, chỉ đạo các con đứa lớn ẵm bồng đứa bé dưới trường côn và tầm vông vạt nhọn bảo vệ của Cha, dần tiến xa hơn về phương Nam, tổ chức hiệu quả các đơn vị hành chánh và quân sự cộng đồng để các con được an toàn hơn, không bao giờ bị truy sát bởi giặc Tàu nhờ ở thật xa phía sau có ơn cao của Mẹ và nghĩa cả của các anh hy sinh gan óc văng tóe lầy trùng điệp núi non, máu tươi phun nhuộm đỏ nước suối ngàn, thân thể rách trần muôn mảnh bón xanh tươi rừng rậm, mắt đầu lâu giặc bêu ngọn giáo không thể nhắm nghiền vì còn dõi ngóng bóng dáng uy dũng Cha hiền biền biệt phương Nam, hồn phách lạc chỉ biết dật dờ phiêu linh dõi lần tìm về nhà Việt. Hạnh phúc của tổ tiên ta ngay từ khởi thủy đã phải buộc không toàn vẹn, chấp nhận chia ly đau thương uất hận vì sự sinh tồn của dân tộc, và tất cả đã toát lên tình phu thê, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình huynh đệ tuyệt vời nhất của dòng giống Lạc Hồng mà không có bất kỳ dân tộc nào trên thế gian này có được: tất cả hy sinh vì mục đích cao cả, với sự đoàn kết vĩ đại và cao thượng, để đạt mục đích tối thượng: dân tộc Việt Nam phải trường sinh, đất nước Việt Nam phải trường tồn.
Đó là lý do ở Việt Nam, Kinh-Thượng một nhà là một thực tế lịch sử hào hùng, bi tráng.
Đó là lý do Việt Nam dù có ở cùng vĩ độ địa dư hay cùng khu vực địa lý với nhiều nước khác, vẫn được xem là có người dân có hình thể và sắc vóc xinh đẹp hơn nhiều so với dân tộc ở các quốc gia ấy. Mẹ Âu Cơ của dân tộc Việt hiền thục xinh đẹp như Tiên, và Cha Lạc Long Quân của dân tộc Việt Nam khỏe mạnh cường tráng uy dũng như Rồng: đó là kết hợp tinh túy tạo nên dòng giống Tiên Rồng của dân tộc Việt Nam vĩ đại.
Một lý giải mới trên nền khoa học, logic, đầy tự hào, cho một tích cũ của Việt Nam.
Mong sao lý giải trên được truyền lưu trong cộng đồng người Việt và chính thức sử dụng chốn học đường.
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tê
www.myabiz.biz
(22-7-2010: http://www.emotino.com/bai-viet/18733/tram-trung-ly-giai-moi-cho-mot-tich-cu )